jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Trung tâm Hoa Kỳ Các dịch vụ của AC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Các chương trình trao đổi giáo dục Quan hệ Mỹ-Việt Góc Nghiên cứu Việt Nam-Hoa Kỳ Học tập ở Hoa Kỳ Cơ hội xin viện trợ/học bổng Các hoạt động dành cho công chúng

Reference Update

Tháng 7-8/2006

KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI

1. LỢI ÍCH CỦA TIẾT KIỆM
Martin Feldstein
Foreign Affairs, tháng 5-6/2006, 7 trang
Lãi suất tiết kiệm ở Hoa Kỳ đã giảm đi trong nhiều thập niên qua. Tuy nhiên, xu hướng này sẽ sớm chấm dứt do các nhân tố như lãi suất cầm cố tăng lên sẽ buộc người Mỹ phải tiết kiệm nhiều hơn. Chắc chắn sự thay đổi như vậy sẽ đem lại lợi ích tốt hơn, dù trước mắt điều đó có thể sẽ gây những vấn đề nghiêm trọng cho Hoa Kỳ và các đối tác thương mại của nước này nếu họ không bắt đầu chuẩn bị ngay lập tức.

2. HAI HUYỀN THOẠI CỦA TOÀN CẦU HÓA
A. Edward Gottesman
World Policy Journal, xuân 2006, 9 trang
Tác giả đề cập tới hai huyền thoại của toàn cầu hóa. Huyền thoại thứ nhất là Trung Quốc sẽ trở thành “siêu cường kinh tế tiếp theo” và sẽ là nền kinh tế lớn nhất thế giới trong 10, 20 hoặc 30 năm tới. Huyền thoại thứ hai là thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ đã diễn ra trong nhiều năm (trong đó khoảng 1/3 liên quan tới thương mại với Trung Quốc), song tình trạng này sẽ không “bền vững” và sẽ dẫn tới một số tác động nhất định trong nền kinh tế toàn cầu.

3. NHỮNG LỰC LƯỢNG TOÀN CẦU HÓA ĐI TÌM TƯƠNG LAI: BỐN LÝ DO TẠI SAO IMF VÀ NGÂN HÀNG THẾ GIỚI PHẢI THAY ĐỔI, VÀ BỐN CÁCH HỌ CÓ THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC ĐIỀU NÀY
Ngaire Woods
CGD Brief, tháng 4/2006, 8 trang
Tác giả cho rằng IMF và Ngân hàng Thế giới hiện đang bị chỉ trích vì thiếu tính hợp pháp, độc lập và hiệu quả. Ông nêu cụ thể bốn lý do chính khiến hai thể chế này cần thay đổi. Trước hết, thu nhập của họ đang cạn dần; thứ hai, các quốc gia là khách hàng truyền thống của họ đang tìm đến những nguồn khác. Ngoài ra, mặc dù việc sử dụng các điều kiện vay vốn của họ đã thất bại song hai tổ chức này vẫn chưa tìm ra được cơ chế mới để quản lý nợ; và họ đang bị coi là thiếu khả năng đưa ra những chính sách công tâm bởi lẽ họ ưu tiên đáp ứng nhu cầu của các nước hùng mạnh hơn là những nước đi vay. Tuy nhiên, tác giả lập luận rằng IMF và Ngân hàng Thế giới có thể đảm bảo tính phù hợp của họ trong tương lai nếu các cuộc cải cách của họ sẽ đem lại những thay đổi sâu sắc như tập trung nhiều hơn đến các nước vay vốn, góp phần thúc đẩy chứ không phải làm sai lệch cuộc tranh luận về chính sách của một quốc gia, cho phép nước đi vay được tham gia vào quá trình ra quyết định, và tập trung vào những vai trò mà chỉ duy nhất họ mới có năng lực đảm trách.

4. VIỆT NAM: TRIỂN VỌNG QUỐC GIA
Economist Intelligence Unit – ViewsWire, ngày 17/8/2006, 2 trang
Bản tin cập nhật những thông tin về phát triển ở Việt Nam, gồm tăng trưởng kinh tế, quan hệ quốc tế, chính sách đối nội và các xu hướng chính sách.

5. THỜI KỲ HOÀNG KIM TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO NGÀY NAY
Surjit S. Bhalla
International Economy, xuân 2006, 5 trang
Tác giả khẳng định những tuyên bố cho rằng toàn cầu hóa làm gia tăng nghèo đói và bất bình đẳng là sai. Ông giải thích rằng nghèo đói tăng lên theo báo cáo của các tổ chức như Ngân hàng Thế giới chỉ đơn thuần dựa trên số người nghèo. Do đó, dân số tăng lên không có nghĩa là có nhiều người nghèo hơn, mà các con số nêu trên đã không phản ánh được số người đã thoát khỏi nghèo đói thậm chí còn nhiều hơn. Bhalla khẳng định lịch sử đã chứng minh rằng tự do hóa kinh tế sẽ dẫn tới hiệu quả sản xuất, và do vậy sẽ đem lại tăng trưởng kinh tế và giúp người dân thoát nghèo. Ông cho rằng xóa đói giảm nghèo đã thành công tới mức đã đến lúc chúng ta có thể tăng ngưỡng nghèo tuyệt đối lên tới hai đô-la một ngày.

6. VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI CÓ ÍCH HAY KHÔNG?
Simeon Djankov
Cato Journal, đông 2006, 28 trang
Các tác giả tin rằng viện trợ nước ngoài có tác động tiêu cực tới vị thế dân chủ của các nước đang phát triển cũng như tăng trưởng kinh tế do đã làm giảm đầu tư, tăng chi tiêu của chính phủ và hạn chế mức độ dân chủ của các quốc gia nhận viện trợ. Hiện có một số biện pháp thay thế trong phương thức giải ngân viện trợ. Tuy nhiên, hầu như không có những bằng chứng đã được tài liệu hóa về hiệu quả viện trợ nước ngoài chứng tỏ rằng viện trợ đã có tác động tới phát triển kinh tế. Các khoản vay sẽ khiến nguồn vốn được sử dụng hiệu quả hơn bởi các khoản vay này sẽ phải được trả. Kiều hối và các khoản hỗ trợ của khu vực tư nhân cũng chứng tỏ là những bước đi tích cực trong việc thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư, song số lượng các quốc gia tham gia vào thị trường viện trợ cùng với các mục tiêu có nguy cơ mâu thuẫn nhau của các nhà tài trợ lại góp phần làm mất đi tính hiệu quả của viện trợ. Các nước tham gia nhấn mạnh rằng hiệu quả viện trợ nước ngoài có thể sẽ được cải thiện bằng cách tăng cường trách nhiệm của các nước nhận viện trợ, giảm thiểu chi phí kiều hối gửi về các nước đang phát triển, và tăng cường sự phối hợp giữa các nhà tài trợ.

7. MÔ HÌNH VÀ VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI: MỘT CÁCH NHÌN THỰC TẾ VỀ “KHOẢNG CÁCH KỸ THUẬT SỐ”
Alec Van Gelder
Institute of Public Affairs Review, tháng 4/2006, 4 trang
Gelder cho rằng sự cường điệu và mối quan tâm thái quá về khoảng cách kỹ thuật số có nguy cơ làm trệch hướng nguồn lực vốn khan hiếm khỏi những nỗ lực thực sự quan trọng đối với việc cải thiện cuộc sống của người nghèo. Theo tác giả, trên thực tế, công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) vẫn nằm ngoài tầm tay của đại đa số người nghèo, song những chỉ số phát triển khác - những yếu tố cần có trước khi có thể sử dụng hiệu quả ICT - như nước và không khí sạch, nguồn năng lượng đáng tin cậy, giáo dục chất lượng cao và pháp quyền cũng còn thiếu ở những quốc gia này. Mặc dù hiện đã có một số mô hình sử dụng ICT thành công ở các nước nghèo, song tác giả nghi ngờ sự cường điệu thái quá về khoảng cách kỹ thuật số ở nhiều nơi vốn còn thiếu các thể chế tự do và các mức sống cơ bản.

AN NINH KHU VỰC

8. SỰ GANH ĐUA NGẤM NGẦM GIỮA TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN
Kent E. Calder
Foreign Affairs, tháng 3-4/2006, 11 trang
Tác giả nhấn mạnh Trung Quốc và Nhật Bản hiện chiếm xấp xỉ 3/4 các hoạt động kinh tế và hơn một nửa chi tiêu quân sự trong khu vực. Bất chấp mối quan hệ kinh tế chặt chẽ và thương mại song phương đã tăng gấp đôi trong năm năm vừa qua, mối quan hệ giữa hai nước ngày càng trở nên căng thẳng - với những hệ lụy nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ và thế giới nói chung. Ông cho rằng Hoa Kỳ nên khuyến khích trao đổi văn hóa như Chương trình Khách mời Quốc tế của Bộ Ngoại giao bởi lẽ các hoạt động như vậy có hiệu quả hơn nhiều so với các biện pháp chính thống nếu chúng ta xét tới tầm quan trọng của mạng lưới quan hệ cá nhân ở châu Á.

9. BÓNG ĐEN CỦA TRÁI BOM, 2006
Sidney D. Drell
Policy Review, tháng 4-5/2006, 14 trang
Tác giả lo ngại rằng các tổ chức khủng bố hoặc các quốc gia bất hảo sẽ có được vũ khí hạt nhân, mong muốn Hoa Kỳ ký kết Hiệp ước Cấm thử Vũ khí Hạt nhân Toàn diện, đồng thời mong muốn các quốc gia tuân thủ Nghị định thư bổ sung của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Tuy nhiên, ông khẳng định rằng có một số chi tiết chưa hoàn thiện - số lượng các quốc gia có vũ khí hạt nhân không tăng lên trong hai thập niên vừa qua mặc dù Pakistan mãi đến năm 1998 mới tiến hành thử vũ khí nguyên tử. Ông cho rằng Sáng kiến An ninh về Phổ biến vũ khí - hiện đã được đưa ra gần ba năm nay - vẫn chỉ là một đề xuất. Tác giả phản đối việc Hoa Kỳ phát triển vũ khí nguyên tử xuyên phá lòng đất - một chương trình mà Chính quyền Bush đã từ bỏ tháng 10/2005. Ông cho rằng Bắc Triều Tiên hiện đang vi phạm những thỏa thuận, và trên thực tế điều đó đã kết thúc với khẳng định của Bình Nhưỡng năm 2002 rằng họ đã bí mật xây dựng kho vũ khí hạt nhân trong nhiều năm.  

NHỮNG VẤN ĐỀ TOÀN CẦU VÀ MÔI TRƯỜNG

10. QUY ĐỊNH CỦA CHÍNH QUYỀN LIÊN BANG VỀ XÉT NGHIỆM GIEN
Gail H. Javitt và Kathy Hudson
Issues in Science and Technology, xuân 2006, 8 trang
Xét nghiệm gien ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, và hiện cung cấp thông tin làm cơ sở để đưa ra những quyết định ảnh hưởng sâu sắc tới cuộc sống, ví dụ việc mổ vú để chữa ung thư, chấm dứt mang thai, hoặc uống một loại thuốc hay liều thuốc đặc biệt. Hiện chính phủ mới chỉ giám sát một phần rất hạn chế độ tin cậy phân tích của các xét nghiệm gien và hầu như không giám sát độ tin cậy lâm sàng của các xét nghiệm gien. Trong bài viết này, Javitt và Hudson cho rằng chính phủ cần đảm bảo rằng các xét nghiệm gien sẽ cung cấp những thông tin y học hữu ích và rằng các kết quả xét nghiệm là đáng tin cậy.

11. NHỮNG BÀI HỌC SỐNG ĐỘNG: KỊCH TRUYỀN HÌNH CÓ THỂ THAY ĐỔI THẾ GIỚI NHƯ THẾ NÀO
Hannah Rosin
The New Yorker, ngày 5/6/2006, 6 trang
Các bộ phim truyền hình nhiều kỳ ra đời từ thập niên 1950 ở Mỹ đã chứng tỏ là chương trình truyền hình phổ biến và tồn tại lâu nhất. Các chương trình phát thanh và truyền hình như vậy ở nhiều quốc gia hiện đang được biến thành phương tiện xóa mù chữ, chống lại bệnh AIDS, ngăn chặn bạo lực gia đình và khuyến khích sự tham gia của người dân. Bài viết đề cập tới việc Trung tâm Thông tin Quốc tế về Dân số có trụ sở tại LHQ có thể phối hợp như thế nào với LHQ và USAID cũng như các tổ chức cộng đồng ở địa phương và các nhà hoạt động xã hội để soạn kịch, phản ánh đúng văn hóa và truyền thống của độc giả ở các nước nghèo trong khi vẫn truyền đi những thông điệp về việc trao quyền hành động.

12. BIẾN TẤT CẢ MỌI THỨ THÀNH DẦU MỎ
Brad Lemley
Discover, tháng 4/2006, 6 trang
Tác giả đề cập tới hoạt động của nhà máy lọc dầu sinh học thương mại đầu tiên trên thế giới - biến các loại rác thải khác nhau thành dầu. Nhà máy này sẽ chuyển rác thải từ các lò giết mổ gà thành dầu mỏ, phân bón cao cấp và nước. Mặc dù những trì hoãn trong giai đoạn thiết lập, những điều chỉnh về kỹ thuật và chi phí vận hành cao hơn đã dẫn tới thua lỗ về tài chính, song chủ nhà máy hy vọng dự án này bắt đầu có lãi vì khoản trợ cấp của chính phủ liên bang dành cho dầu diesel có thể tái sinh đã có hiệu lực đầu năm 2006. Kế hoạch tương lai của công ty gồm xây dựng các nhà máy tiếp theo ở châu Âu để xử lý rác thải từ các lò giết mổ bò vì các nhà máy này có thể sẽ tiêu hủy được một loại đạm gây ra bệnh bò điên. Công ty cũng chứng minh quy trình tái chế xe hơi, sử dụng những loại phế phẩm của ô tô như nhựa, sợi, cao su và ni-lông - các loại rác hiện đã tràn ngập các bãi rác.

BÁO CHÍ, TRUYỀN THÔNG VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

13. ĐẰNG SAU VỤ BÊ BỐI VỀ PHẦN MỀM GIÁN ĐIỆP
Wade Roush
Technology Review, tháng 5-6/2006, 17 trang
Năm 2005, công ty Giải trí Âm nhạc BMG của Sony đã kèm theo phần mềm chống ăn cắp bản quyền trong các đĩa CD của họ. Tuy nhiên, làm như vậy, Sony đã cài phần mềm gián điệp theo dõi khách hàng của mình và tạo điều kiện cho hacker có khả năng xâm nhập vào các máy tính của họ. Tác giả thuật lại Sony đã cài phần mềm bí mật này như thế nào vào các máy tính của khách hàng nhằm ngăn chặn người nghe không được sao chép quá ba lần những bản nhạc trên đĩa, và bí mật liên hệ với Sony qua mạng Internet mỗi khi người sử dụng máy tính dùng đĩa chống sao chép. Vụ bê bối này đã thổi bùng lên cuộc tranh luận về việc người sử dụng có quyền sử dụng những thông tin có bản quyền dưới dạng kỹ thuật số như thế nào, và làm thế nào người giữ bản quyền có thể đảm bảo tài sản trí tuệ của họ trước nạn ăn cắp bản quyền.

14. TRONG THẾ GIỚI BỊ RÒ RỈ THÔNG TIN
William Powers
National Journal, ngày 6/5/2006, 1 trang
Tác giả đề cập tới cách thức các nền dân chủ ở nhiều nơi trên thế giới đang giải quyết những vấn đề liên quan tới những nguồn tin giấu tên, luật pháp và báo chí. Ông cho rằng mặc dù người Mỹ có xu hướng coi vấn đề này có tính đặc thù với Hoa Kỳ, song Australia gần đây cũng đã thông qua luật chống khủng bố mà một số nhà quan sát cho rằng đã có “tác động tiêu cực tới tin tức”. Ở Mexico, chính phủ đã thông qua một đạo luật cho phép các nhà báo được bảo vệ nguồn tin của họ do có những mối đe dọa nguy hiểm từ các tập đoàn tội phạm và độc quyền dược phẩm. Một vụ án được đem ra xét xử gần đây ở Nhật Bản đã cho cho phép một số nhà báo bảo vệ nguồn tin của họ. Tác giả kết luận rằng “tự do báo chí là một vũ điệu đầy tinh tế, một chuỗi những phán đoán bất tật. Xã hội càng cố gắng định nghĩa chặt chẽ về dân chủ thì các nhà báo càng khó có thể tác nghiệp hơn”.

CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA MỸ

15. ĐẢNG CỘNG HÒA CÓ THỂ KHÔI PHỤC LẠI VỊ THẾ NHƯ THẾ NÀO
Carl M. Cannon
National Journal, ngày 13/5/2006, 7 trang
Theo Cannon, khi cuộc bầu cử tháng 11 ngày càng đến gần, Đảng Cộng hòa đang cảm thấy thiếu sự ủng hộ thậm chí ngay tại những khu vực vốn từ lâu đã là cơ sở của Đảng này. Cố vấn chính trị của Đảng Cộng hòa đã nhất trí như vậy và nhấn mạnh rằng “vị thế của một đảng luôn được xác định qua các nhà lãnh đạo của mình… điều đó có nghĩa là đây sẽ là một cuộc bầu cử quốc hội giữa kỳ đầy cam go”. Có một số giải pháp, ví dụ xây dựng văn hóa đạo đức để lấy lại niềm tin của người dân, chứng minh các biện pháp thắt lưng buộc bụng trong chi tiêu, coi trọng vấn đề Iraq, thậm chí ngay cả khi điều đó cũng có nghĩa là tranh thủ sự giúp đỡ từ các quốc gia khác. Tóm lại, không một vấn đề nào nêu trên có thể được giải quyết trong một sớm một chiều. Cannon kết luận rằng có lẽ sau 12 năm Đảng Cộng hòa chiếm vị thế áp đảo trong Quốc hội, người dân đã sẵn sàng tìm đến một sự thay đổi mới.

16. CHẠY THEO BÀ HILLARY
Marc Ambinder
National Journal, ngày 22/4/2006, 6 trang
Các ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ hiện đang vận động gây quỹ cho chiến dịch tranh cử sơ bộ, trong đó Thượng nghị sỹ Hillary Rodham Clinton đang dẫn đầu. Tính đến ngày 31/3/2006, cựu Đệ nhất phu nhân đã vận động được 39,3 triệu đô-la. Theo các chuyên gia, số tiền đó chỉ thấp hơn một chút so với mức 40 triệu đô-la mà một ứng viên cần có để có thể giữ vững được vị thế chính trị của mình cho cuộc họp kín để lựa chọn ứng cử viên ở bang Iowa năm 2008. Trong khi Thượng nghị sỹ Clinton giành được sự ủng hộ của các tập đoàn tài chính hùng mạnh thì các ứng cử viên khác lại tìm đến các khu vực khác để gây quỹ, trong đó có mạng Internet và ở cơ sở. Nhiều trong số các cuộc cạnh tranh để vận động gây quỹ thường thấy hiện đã bớt căng thẳng trước vị trí dẫn đầu của bà Clinton, khiến cho các ứng viên khác chỉ còn một cơ hội để tham gia cạnh tranh vào năm 2008.

17. NHỮNG KẺ TUNG TIN TRANH CỬ TỔNG THỐNG
Michael Crowley
The New Republic, ngày 15/5/2006, 2 trang
Tác giả khẳng định rằng một số chính trị gia đã sử dụng tin đồn cho rằng tranh cử tổng thống là để phục vụ tư lợi. Ông đã nêu một số trường hợp các thượng nghị sỹ ‘tung tin’ họ có thể sẽ là ứng cử viên tổng thống để tăng cường vị thế của họ tại Quốc hội. Các chính trị gia liên quan đến những vụ bê bối như vậy có thể sử dụng tin đồn ra tranh cử tổng thống để chứng tỏ năng lực và thu hút các cử tri. Cuối cùng, các chính trị gia đi diễn thuyết hay phát hành sách cũng tung tin ra tranh cử để tận dụng uy tín của Nhà Trắng và hy vọng người nghe và người đọc sẽ mở hầu bao để tìm hiểu những ý tưởng của một vị tổng thống tương lai. Tác giả lo ngại rằng việc tung tin như vậy có thể làm cho các chiến dịch tranh cử tổng thống trở nên tầm thường và gây trở ngại cho những nỗ lực của các ứng cử viên thực sự muốn chuyển tải những thông điệp đầy tâm huyết của họ.

CÁC TƯ LIỆU DỊCH

18. THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ BẢN QUYỀN
Cục Bản quyền, Thư viện Quốc hội Mỹ, tháng 7/2006, 25 trang
Bản quyền là một hình thức bảo hộ của luật pháp Hoa Kỳ (điều 17, Bộ luật Hoa Kỳ) đối với tác giả của “các tác phẩm gốc của tác giả”, bao gồm tác phẩm văn học, sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật và các tác phẩm trí tuệ khác. Hình thức bảo hộ được áp dụng với các tác phẩm đã được xuất bản cũng như chưa được xuất bản.

Dưới đây là các bài viết trong cuốn “Sự ra đời của các phương tiện truyền thông” - tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 3/2006.
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej0306.html

19. NHỮNG PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐANG HIỆN RÕ KHẢ NĂNG ĐỊNH HÌNH LẠI XÃ HỘI TOÀN CẦU
Dale Peskin và Andrew Nachison
4 trang
Mối quan hệ giữa giới truyền thông truyền thống và công chúng đang thay đổi, một xu hướng mà những chuyên gia về thông tin này gọi là “Chúng ta – Giới truyền thông”. Tiến trình báo chí đang xuất hiện này cho phép mạng lưới xã hội trên các trang Web sản xuất, phân tích và truyền bá những tin tức và thông tin tới công chúng được liên kết với nhau bằng công nghệ, mà không bị hạn chế bởi khoảng cách địa lý.

20. BÁO CHÍ TẠO DỰNG LẠI MÔI TRƯỜNG CHO CHÍNH MÌNH
Brian L. Steffens
6 trang
Các tờ báo lớn và nhỏ đều có một lịch sử lâu dài tự thích nghi với những thay đổi của công nghệ và thị trường. Những tờ báo của các thành phố nhỏ và của các địa phương đang phát triển tốt trong một thời đại công nghệ mới, cho phép các tờ báo này đưa tin về các sự kiện ở địa phương một cách chi tiết và với tốc độ mà trước đây chúng không có được.

21. CÁC ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH LÊN MẠNG TRỰC TUYẾN, DÙ VẪN PHÁT SÓNG TRÊN KHÔNG
Michael Murrie
6 trang
Những tiến bộ nhanh chóng của công nghệ đã buộc các đài phát thanh truyền hình phải điều chỉnh việc phát sóng sau những làn sóng của sự thay đổi. Ngành công nghiệp này hầu như đã biến đổi tất cả những khía cạnh trong hoạt động của mình – cách thức các đài phát thanh truyền hình đưa ra chương trình phát sóng và họ làm chương trình như thế nào, và những gì mà khán giả cần và khi nào họ cần.

22. CÁC THƯ VIỆN CÔNG CỘNG TRONG THỜI ĐẠI INTERNET
Maurice J. (Mitch) Freedman
4 trang
Các thư viện công cộng và những nhân viên làm việc tại những thư viện này vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ công chúng tìm kiếm và khai thác “biển cả thông tin” giờ đây đã có thể đến với độc giả dễ dàng qua mạng Internet.

23. KẾT NỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI Ở RẤT XA
4 trang
Các tiến bộ trong công nghệ thông tin có ý nghĩa lớn về xã hội và kinh tế, khiến dân chúng có thể tìm kiếm cả những thông tin nằm ngoài cộng đồng của họ, kết nối với dân cư ở các cộng đồng khác, chia sẻ mối quan tâm và học hỏi từ những người có nhiều kinh nghiệm và kiến thức. Bài báo này mô tả một số cộng đồng trực tuyến, trong đó, những người tham gia có thể kết nối với nhau và khiến các mối quan tâm trở nên mạnh mẽ như chưa từng có cơ hội để phát triển trước đây.

24. INTERNET2 ĐANG XÂY DỰNG MẠNG INTERNET TƯƠNG LAI
Heather Boyles
3 trang
Một tập hợp các tổ chức quốc tế đang hợp tác trên phạm vi toàn thế giới nhằm phát triển mạng Internet tương lai, cho phép tiến hành công tác nghiên cứu và thiết lập quan hệ đối tác nhằm thúc đẩy tính sáng tạo, tinh thần hợp tác và nâng cao giáo dục.

25. CHỐNG TỘI PHẠM TRỰC TUYẾN
Daniel Larkin
6 trang
Thương mại điện tử cũng đã kéo theo tội phạm trực tuyến. Các cơ quan thực thi pháp luật đã tìm ra nhiều biện pháp mới và xây dựng các mối quan hệ mới để bắt giữ những kẻ tội phạm trực tuyến. 

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ