jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Trung tâm Thông tin Tư liệu Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Các chương trình trao đổi giáo dục Quan hệ Mỹ-Việt Góc Nghiên cứu Việt Nam-Hoa Kỳ Học tập ở Hoa Kỳ Cơ hội xin viện trợ/học bổng Các hoạt động dành cho công chúng

Reference Update

Tháng 11-12/2006

KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI

1. CẦN CÓ QUYỀN ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI NHANH VĨNH VIỄN?
Greg Mastel và Halandra Shapiro
International Economy, hè 2006, 6 trang

Số lượng các Hiệp định Tự do Thương mại đã tăng gần năm lần kể từ khi quyền đàm phán thương mại "nhanh" được tái xác lập năm 2002 theo Đạo luật Quyền Xúc tiến Thương mại. Quyền đàm phán nhanh sẽ hết hạn năm 2007, và các tác giả khẳng định rằng còn lâu nữa quyền này mới lại được tái lập như lịch sử đã cho thấy. Mặc dù vẫn có thể đàm phán các Hiệp định Tự do Thương mại khi không có quyền đàm phán nhanh nhưng sẽ khó khăn hơn và dễ bị trì hoãn. Sự trì hoãn này không chỉ cản trở thương mại mà còn gây tổn hại cho cả chính sách thương mại của Mỹ lẫn tăng trưởng toàn cầu. Các tác giả khuyến nghị cần phải thiết lập một hình thức quyền đàm phán nhanh vĩnh viễn nào đó.

2. HỆ LUỴ TOÀN CẦU NẾU ĐỒNG ĐÔ LA SỤT GIÁ
Samuel Brittan
International Economy, Hè 2006, 4 trang
Brittan thừa nhận sự thất bại của thị trường nhà đất Mỹ chắc chắn dẫn đến sự sụt giá của đồng đô-la. Tuy nhiên, việc giá trị bên ngoài của đồng đô-la bị sụt giảm sẽ là dấu hiệu để các nhà chức trách châu Á giảm tích luỹ tài sản, thậm chí còn bán phá giá những tài sản đó. Tác giả bàn về những hậu quả chính trị và kinh tế nếu đồng đô-la sụt giá và nêu một số kịch bản có thể xảy ra.

3. VIỄN CẢNH VIỆT NAM
ViewsWire, 1/12/2006, 3 trang
Bài báo cung cấp thông tin cập nhật và khái quát về sự phát triển của Việt Nam bao gồm tăng trưởng kinh tế, quan hệ quốc tế, chính trị nội bộ và các khuynh hướng mang tính chính sách.

4. 10 SỰ KIỆN KINH TẾ NỔI BẬT CỦA VIỆT NAM NĂM 2006
Thai News Service, 3/1/2007, 3 trang
Từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới cho tới thị trường chứng khoán tăng gấp đôi về giá trị, năm 2006 Việt Nam đã có một năm xuất sắc xét về thành tích kinh tế đầy ấn tượng và những tiến bộ trong quá trình hội nhập quốc tế.

5. TÁM XU THẾ LỚN ĐỊNH HÌNH TƯƠNG LAI CÔNG VIỆC KINH DOANH
Karl Albrecht
The Futurist, 9-10/2006, 5 trang
Thành công trong thế giới kinh doanh ngày mai đồng nghĩa với việc nhận thức được những thay đổi to lớn của ngày hôm nay. Đây là tám xu thế nổi bật nhất.

6. NGÂN HÀNG VÀ TÀI CHÍNH TRUNG QUỐC
Thomas Clouse
Institutional Investor, 11/2006, 3 trang
Clouse - một phóng viên thường trú tại Bắc Kinh - cho biết môi trường nhộn nhịp xung quanh các công ty lần đầu tiên bán cổ phiếu cho công chúng mới đây trong ngành ngân hàng của Trung Quốc phụ thuộc vào triển vọng tương lai của các ngân hàng, chứ không phải những khó khăn của họ trong quá khứ. Ông cho biết, khi Trung Quốc đưa ra những cam kết gia nhập WTO năm 2001, những ngân hàng yếu kém của nước này đang phải vật lộn với tình trạng nợ xấu, mối quan hệ thân quen, và tham nhũng. Kể từ đó, các ngân hàng Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, một nền kinh tế mạnh có nghĩa là cải cách phải thực sự được thử thách đầy đủ. Tác giả giải thích, những quyết định cho vay thiếu cân nhắc nhìn chung được che đậy bằng sự gia tăng vốn vay tổng thể, tuy nhiên, dự báo kinh tế toàn cầu suy giảm năm 2007 sẽ cho thấy cải cách tốt đến mức nào. Clouse nhấn mạnh những lĩnh vực đáng lo ngại chẳng hạn như chính phủ tiếp tục can dự sâu vào ngành ngân hàng và kiểm soát sở hữu tư nhân và nước ngoài, khiến hạn chế sự cạnh tranh. Ngược lại, tác giả cũng nói thêm rằng mặc dù có sự tham gia hạn chế của các ngân hàng nước ngoài nhưng nó sẽ vẫn mang đến cho thị trường Trung Quốc sự chuyển giao công nghệ và "những kinh nghiệm tốt nhất". Tác giả khẳng định, triển vọng là sáng sủa đối với những ngân hàng biết tận dụng cải cách và công nghệ mới, nhưng các nhà đầu tư sẽ cần phải có sự lựa chọn đúng đắn.

7. TRÁCH NHIỆM CÓ NGUYÊN TẮC: BIẾN ĐỔI VĂN HOÁ THAM NHŨNG
Ngoại trưởng Condoleezza Rice
Tạp chí Điện tử Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 12/2006, 1 trang

Hoa Kỳ tự hào hỗ trợ những nước thúc đẩy cuộc chiến chống tham nhũng thông qua tăng cường quản lý trung thực và liêm chính, khôi phục lòng tin của quần chúng, củng cố sự thống nhất thị trường, và nuôi dưỡng xã hội mở và quyền tự do báo chí.

8. GIẢI QUYẾT THAM NHŨNG BẰNG CÁC HIỆP ƯỚC VÀ CAM KẾT QUỐC TẾ
John Brandolino và David Luna, Chương trình Sáng kiến chống Tham nhũng và Quản lý, Cục phòng chống Ma tuý Quốc tế và Thực thi Pháp luật, Bộ Ngoại giao Mỹ
Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Mỹ, tháng 12/2006, 5 trang
Với sự nhất trí về các cơ chế chống tham nhũng, cộng động quốc tế đang mở rộng cánh cửa hợp tác song phương và đa phương trên những mặt trận quan trọng một thời là các mặt trận địa phương truyền thống.

AN NINH QUỐC TẾ

9. ĐỐI THOẠI VỚI KẺ THÙ
Christopher Bradish; Arlen Specter
Washington Quarterly, Đông 2006-2007, 17 trang

Bài báo này khuyến khích các cuộc đàm phán song phương và đa phương giữa Mỹ với những kẻ thù của mình, đặc biệt là Iran và Bắc Triều Tiên. Thượng nghị sĩ Specter cho rằng Mỹ phải dàn xếp với Iran và Bắc Triều Tiên bất luận cảm nhận như thế nào về giới lãnh đạo và chính sách của hai nước này. Thượng nghị sĩ đưa ra ví dụ về nỗ lực ngoại giao thành công với Cu Ba và Xiri, hai nước khác được coi là kẻ thù của Mỹ. Ông cũng viết về chuyến thăm mới đây tới Vênêzuêla nơi ông gặp gỡ Hugo Chavez và thuyết phục được vị Tổng thống này gặp Đại sứ Mỹ, việc mà lúc đầu Chavez không sẵn sàng. Specter kết luận rằng, theo kinh nghiệm của ông, dàn xếp với các nhà lãnh đạo chính trị, bất luận lập trường của Mỹ về giới lãnh đạo của họ như thế nào đi nữa, sẽ giúp ngoại giao thành công hơn và thậm chí có thể ngăn chặn được xung đột.

 

10. CAN THIỆP NHÂN ĐẠO VÀ CUỘC CHIẾN Ở IRẮC: CHUẨN MỰC, ĐÀM THOẠI VÀ THỰC TIỄN QUỐC GIA
Eric A. Heize
Parameters, Xuân 2006, 11 trang
Tiến sĩ Heinze, Giáo sư Khoa học Chính trị tại Trường Đại học Oklahoma, phân tích học thuyết can thiệp nhân đạo với tư cách là sự biện minh cho việc sử dụng vũ lực, đặc biệt trong cuộc chiến Irắc. Với thất bại không tìm thấy vũ khí huỷ diệt hàng loạt, việc sử dụng vũ lực ở Irắc được biện minh trên cơ sở nhân quyền. Sáu nhân tố mà Heinze sử dụng để xem xét khi nào thì một cuộc chiến tranh được coi là can thiệp nhân đạo hợp pháp, bao gồm: động cơ, mức độ thiệt hại về người, chiến tranh là biện pháp cuối cùng, triển vọng thành công, mức độ và tính chính nghĩa.

11. PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN TRONG THẬP KỶ TỚI: NGUYÊN NHÂN, DẤU HIỆU CẢNH BÁO VÀ PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH
Peter R. Lavoy
Nonproliferation Review, tháng 11/2006
Vào tháng 7/2006 tác giả đã tổ chức một hội thảo tại Trường Cao học Hải quân ở Monterey thu hút sự tham gia của khoảng 60 học giả gồm các chuyên gia phi chính phủ, các nhân viên quân sự và các quan chức chính phủ Mỹ. Các đại biểu tham dự được đề nghị đánh giá tình hình trong 10, 15 năm tới để xem xét những nhân tố nào có thể ảnh hưởng tới việc phổ biến vũ khí hạt nhân vào năm 2016. Tác giả giới thiệu nội dung toàn bộ số tạp chí chuyên về phổ biến hạt nhân trong thập kỷ tới tại thời điểm khi mà cộng đồng quốc tế gia tăng lo ngại về các kế hoạch hạt nhân của Iran và Bắc Triều Tiên.

CÁC VẤN ĐỀ TOÀN CẦU/THÔNG TIN VÀ VIỄN THÔNG

12. CHƯA ĐÁNH GIÁ ĐÚNG MỨC NHU CẦU NGŨ CỐC ĐỂ SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU CHO ÔTÔ
Lester Brown
Earth Policy Institute Eco-Economy Update, 4/1/2007, 3 trang

Tác giả, người sáng lập ra Viện Nghiên cứu Chính sách Trái đất (EPI), cho biết trong hai năm qua ngành công nghiệp nhiên liệu ethanol của Mỹ phát triển nhanh đến mức không thu thập kịp số liệu. Bộ Nông nghiệp Mỹ ước tính việc sản xuất ethanol sẽ tiêu thụ 60 triệu tấn ngô kể từ vụ thu hoạch năm 2008. Tuy nhiên EPI, sau khi xem xét số liệu tổng hợp của một số công ty tiến hành điều tra ngành công nghiệp này, ước tính rằng số lượng ngô cần sẽ phải nhiều hơn gấp đôi. Brown cảnh báo rằng sự chuyển hướng bất ngờ của loại ngũ cốc chính của thế giới sang để sản xuất nhiên liệu sẽ ảnh hưởng tới giá lương thực ở mọi nơi, và có khả năng dẫn đến sự bất ổn chính trị ở các nước nhập khẩu trên toàn thế giới. Ông cho rằng thu hoạch ngô của Mỹ chiếm 40% tổng sản lượng thế giới, và chiếm 70% sản lượng xuất khẩu ngô trên thế giới. Riêng sản xuất ngô của bang Iowa đã nhiều hơn toàn bộ thu hoạch ngũ cốc của Canađa; nếu các nhà máy trưng cất ethanol được xây dựng hoặc có kế hoạch đặt ở Iowa được đưa vào hoạt động thì Iowa có thể phải trở thành một nhà nhập khẩu ngô. Brown kêu gọi ngừng cấp phép xây dựng các nhà trưng cất mới - một “hình thức tạm dừng, trong khi chúng ta cân nhắc và quyết định bao nhiêu ngô có thể sử dụng để sản xuất ethanol mà không làm tăng đáng kể giá lương thực”.
Có tại trang web http://www.earth-policy.org/Updates/2007/Update63.htm

13. YOUTUBE VÀ BOOB TUBE
Bob Garfield
Wired, tháng 12/2006, 7 trang
Garfield cho rằng cần phải suy nghĩ lại nếu ai đó coi YouTube.com chỉ là vô số những hình ảnh video của những người có tính hướng ngoại trên mạng muốn đặt mình trước ống kính máy quay. Thay vì như vậy, trang web chia sẻ những hình ảnh video trực tuyến này là những làn những đợt sóng đầu tiên của cơn sóng thần trong ngành truyền thông, nó sẽ đè bẹp mô hình kinh doanh giúp duy trì truyền hình là một công việc kinh doanh béo bở. Tác giả cho rằng việc YouTube ngày càng nhanh chóng trở nên phổ biến có nghĩa là khán giả của thế kỷ 21 đã hết quan tâm tới loại hình chương trình được sản xuất theo truyền thống của các mạng lưới truyền hình lớn của Mỹ. Nếu không có khán giả, truyền hình sẽ không thu hút được các nhà quảng cáo, những người mang lại nguồn thu nhập chính cho các hãng truyền thông lớn. Các nhà quảng cáo - những người ngại tranh cãi - rất cẩn trọng khi bước vào thế giới trực tuyến, nơi mà sự kỳ quặc, quái đản, tầm thường và mỉa mai là những đặc tính nổi bật. Hơn thế nữa, cái thế giới tự do thoải mái và tự mình tạo nên nội dung ấy lại còn không tuân thủ những cơ cấu pháp lý thông thường về bảo vệ quyền sở hữu và quyền tác giả. Những bất trắc này khiến cho tương lai của Youtube không rõ ràng, nhưng Garfield cho rằng với 100 triệu lượt truy cập mỗi ngày sẽ đảm bảo sự tồn tại lâu dài của nó. Có tại trang web www.wired.com/wired/archive/14.12/youtube.html

14. TÔI DỊCH CHỈ VẺN VẸN TRONG MỘT NGÀY
Evan Ratliff
Wire, tháng 12/2006, 6 trang
Kể từ buổi bình minh của thời đại máy tính, các kỹ sư đã cố gắng xây dựng một chương trình dịch văn bản từ thứ tiếng này sang thứ tiếng khác. Thế nhưng, công việc ấy quả là khó khăn hơn mọi người tưởng rất nhiều. Tuy nhiên, công ty Meaningful Machines - một công ty máy tính có trụ sở tại New York - đã sắp thành công với việc cho ra đời một khái niệm hoàn toàn mới làm nền tảng cho chương trình dịch thuật của mình. Hầu hết các chương trình đã cố gắng áp dụng các nguyên tắc ngữ pháp truyền thống cho một đoạn văn bản để đưa ra một bản dịch, thế nhưng các chương trình đã không nắm bắt được ý và bối cảnh sử dụng ngôn ngữ. Chúng đã tạo ra những bản dịch rất tồi hoặc đơn giản là rất lúng túng. Trái lại, phương pháp của Meaningful Machines thử nghiệm dịch bằng cách phân tích khả năng thống kê đối với việc đối chiếu các cụm từ và cách dùng thông dụng trong văn bản cần dịch so với phần văn bản lớn được lưu trữ trong ngân hàng dữ liệu của nó. Vài thế hệ kỹ sư đã vật lộn với vấn đề này, nhưng chính một nhà phát minh người Israel chưa hề qua đào tạo lại được cho là "người giải mã" có thể xử lý được những vấn đề cổ điển nhất trong khoa học máy tính. Có tại trang web wired.com/wired/archive/14.12/translate.html

CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA MỸ

15. TRUYỀN HÌNH VÀ LỢI THẾ ĐƯƠNG CHỨC TRONG CÁC CUỘC BẦU CỬ MỸ
Stephen Ansolabehere
Legislative Studies Quarterly, tháng 11/2006, 22 trang
Lợi thế đương chức là một hiện tượng nổi bật ở Mỹ tại tất cả các cấp độ của nền chính trị. Lợi thế này tằng từ 1% lên 2% điểm trong những năm 1940 và tăng từ 8-10% điểm tại thời điểm hiện nay. Có rất nhiều lý thuyết làm cơ sở giải thích lợi thế này. Các tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền hình và cạnh tranh bầu cử; sau khi xem xét số liệu từ các cuộc bầu cử bang và thượng viện từ năm những năm 1940 đến 1990, các tác giả kết luận rằng "truyền hình có tác động nhỏ, không có định hướng rõ ràng, và không quan trọng về mặt thống kê đối với lợi thế đương chức".

16. NGUYÊN LIỆU THÔ
Carl M. Cannon
National Journal, 9/12/2006, 5 trang

Tác giả phân tích khả năng Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ bang Illinois Barack Obama trở thành vị tổng thống tiếp theo. Obama được nhiều người biết đến mặc dù mới chỉ giữ cương vị thượng nghị sĩ Mỹ trong 22 tháng; ông không có kinh nghiệm như các vị tổng thống khác từng có, chẳng hạn như từng làm thống đốc hoặc sĩ quan trong quân đội. Mặt khác, Obama cuốn hút nhiều người, những người cảm nhận ông giống với John F. Kenedy. Thêm vào đó, tác giả viết ông là "một gương mặt mới với một câu chuyện khích lệ tinh thần ở thời điểm khi mà người Mỹ - thường dễ bị tác động bởi một công việc chán ngán - đang tìm kiếm một điều gì đó to lớn tiếp theo, đặc biệt khi nó thuộc sự quản lý của họ ». Tác giả nhấn mạnh, ngay cả một số thành viên Đảng Cộng hoà cũng thừa nhận rằng Obama là hiện thân cho niềm hy vọng, trí tuệ, sự đa dạng, và một tính cách rất khác với Tổng thống Bush.

17. CÁC TOÀ ÁN HIẾN PHÁP: HẠN CHẾ QUYỀN LỰC CỦA CÁC NHÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
Donald L. Horowitz
Journal of Democracy, tháng 11/2006, 13 trang
Khi các nền dân chủ mới nổi lên soạn thảo hiến pháp, các nhà soạn thảo thêm vào việc xem xét về mặt tư pháp hành động của chính phủ, coi đó là một hạn chế cần thiết đối với quyền lực của ngành hành pháp. Một số nước cho phép Toà án Tối cao tuyên bố đạo luật hoặc hành động của cơ quan hành pháp là không hợp hiến, trong khi các nước khác lại xây dựng các toà án hiến pháp để xét xử các vụ kiện. Bài viết của Horowit trình bày điểm mạnh và điểm yếu của từng cách tiếp cận. Ông thừa nhận rằng soạn thảo hiến pháp một cách cẩn trọng là cần thiết để hạn chế quyền lực của ngành hành pháp bằng cách cho phép ngành tư pháp cơ hội được xem xét lại hành động của ngành hành pháp.

TÀI LIỆU DỊCH

18. TUYÊN BỐ CHUNG GIỮA NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ
17/11/2006, 3 trang

 

19. PHÁT BIỂU CỦA NGOẠI TRƯỞNG RICE TẠI HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH CÁC TỔNG GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP APEC
18/11/2006, 8 trang

20. PHỎNG VẤN NGOẠI TRƯỞNG RICE CỦA PHÓNG VIÊN THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
18/11/2006, 2 trang

Những bài viết dưới đây trích từ "Hướng dẫn nghề làm báo độc lập"-Ấn phẩm của IIP, tháng 7/2006 của tác giả Deborah Potter, Giám đốc NewsLab tại Washington, D.C., và cựu phóng viên của các hãng tin SBS và CNN.

21. CÁI GÌ MỚI?
8 trang

22. THU THẬP TIN BÀI
8 trang

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ