jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Trung tâm Thông tin Tư liệu Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Các chương trình trao đổi giáo dục Quan hệ Mỹ-Việt Góc Nghiên cứu Việt Nam-Hoa Kỳ Học tập ở Hoa Kỳ Cơ hội xin viện trợ/học bổng Các hoạt động dành cho công chúng

Reference Update

Tháng 4/2007

KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI

1. Các Hiệp định thương mại với tư cách là Luật Bản quyền mới
K. Matthew Dames
Online, tháng 3-4/2007, 5 trang
Tác giả xem xét vai trò ngày càng tăng của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) trong các vấn đề về luật sở hữu trí tuệ toàn cầu, kể cả cưỡng chế thi hành luật bản quyền trong nước. Tác giả cho rằng xu hướng này báo hiệu một nguy cơ nghiêm trọng, đó là việc xây dựng chính sách bản quyền riêng mà không thông báo cho người dân Mỹ, và thường được tiến hành theo cách thức khiến quyền lực của Quốc hội - với tư cách là cơ quan lập pháp duy nhất của quốc gia - bị suy giảm.

2. Quốc gia giàu, người dân nghèo?
Joseph Stiglitz
New Perspectives Quarterly, Đông 2007, 3 trang
Trong cuộc phỏng vấn với biên tập viên của NPQ, nhà kinh tế học đạt giải Noben Joseph Stiglitz hoài nghi về mô hình toàn cầu hóa của Mỹ, cho rằng mô hình này làm sụt giảm mức lương ở các nước phát triển và áp đặt những thực tiễn thương mại không công bằng đối với các nước đang phát triển. Ông nói toàn cầu hóa chỉ vận hành nếu kẻ thắng chia sẻ với người thua và cảnh báo xu hướng bảo hộ có thể xảy ra nếu tình hình này vẫn tiếp diễn.

3. Tại sao thế giới không phẳng?
Pankaj Ghemawat
Foreign Policy, tháng 3-4/2007, 7 trang
Bài viết bàn về nhận định cho rằng toàn cầu hóa đã xóa bỏ mọi biên giới quốc gia. Theo tác giả đây là nhận định sai lầm. Ông khẳng định rằng sự liên kết và hội nhập toàn cầu đã không diễn ra, và tương lai của toàn cầu hóa rất mong manh. Các công ty xuyên quốc gia đang dấu tranh chống chủ nghĩa bảo hộ và tình trạng suy thoái kinh tế địa phương khiến quá trình toàn cầu hóa có thể bị đảo ngược có thể kéo dài hàng thập kỷ.

4. Sử dụng và lạm dụng các chỉ số quản lý
Christiane Arndt và Charles Oman
Trung tâm Phát triển OECD, 30/4/2007, 126 trang
Mối quan tâm ngày càng gia tăng về quản lý kinh tế và chính trị hiệu quả đã dẫn tới sự hình thành nhiều chỉ số quản lý. Những chỉ số này được các nhà đầu tư tiềm năng, các cơ quan phát triển và các nhà phân tích dùng để đánh giá môi trường tăng trưởng và hợp tác ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vấn đề là nhiều chỉ số đã bị sử dụng sai nhằm so sánh chất lượng quản lý giữa các nước và theo thời gian. Dựa trên nhận thức, giải thích và những dữ liệu chính đang thay đổi, những chỉ số này đặt ra nhiều khó khăn cho những ai sẽ sử dụng chúng làm cơ sở khoa học để hoạch định chính sách và lập kế hoạch chiến lược, hoặc đánh giá tiến bộ cải cách theo thời gian. Dù chắc chắn không bao giờ có những chỉ số quản lý hoàn hảo, nhưng việc đưa ra và sử dụng các chỉ số minh bạch hơn sẽ hỗ trợ tốt hơn cho cả các nước đang phát triển và các nhóm bên ngoài muốn cải thiện chất lượng quản lý của địa phương.

5. Trung Quốc và Hội nhập Kinh tế ở Đông Á: Hệ lụy đối với Hoa Kỳ
C. Fred Bergsten
Policy Briefs in International Economics, Số PB07-3, tháng 3/2007, 10 trang
Theo tác giả, vấn đề chủ yếu đặt ra cho Hoa Kỳ là tác động của qúa trình hội nhập kinh tế ở Đông Á đối với vai trò của Trung Quốc. Ông đề xuất Hoa Kỳ phải tìm cách đưa tất cả các hiệp định thương mại mới với phần Châu Á-Thái Bình Dương vào khuôn khổ châu Á-Thái Bình Dương rộng lớn hơn: Xây dựng một khu vực Thương mại Tự do Thái Bình Dương-Châu Á (FTAAP) sẽ gắn kết phần Châu Á-Thái Bình Dương ở Thái Bình Dương-Châu Á.

AN NINH KHU VỰC

6. Theo đuổi mặt trời Đông Á
Stephen W. Bosworth
Diễn đàn Fletcher về các vấn đề quốc tế, Đông 2007, 10 trang
Tác giả đưa ra viễn cảnh hấp dẫn về một khu vực năng động, và giải thích tại sao Trung Quốc có thể là thách thức nan giải nhất đối với các nhà hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ hôm nay.

7. Lại bàn về sự đụng độ giữa các nền văn minh
Samuel P. Huntington
New Perspectives Quarterly, Đông 2007, 7 trang
Trong cuộc phỏng vấn này, Samuel P. Huntington, giáo sư Đại học Harvard, chỉ ra rằng quan hệ giữa các quốc gia trong những thập kỷ tới chắc chắn sẽ phản ánh những cam kết văn hóa, mối quan hệ văn hóa và sự thù hận của họ đối với các nước khác chứ không phản ánh những nhân tố khác.

8. Liên minh cuối cùng sẽ trụ vững? NATO sau 9/11
John R. Schmidt
The Washington Quarterly, Đông 2006-2007, 14 trang
Vai trò quân sự của khối NATO đang thay đổi cùng với sự biến chuyển của môi trường an ninh thế giới. Schmidt mô tả con đường phía trước đầy bất trắc của NATO, liệu nó còn có thể trụ vững hay sẽ dần tan vỡ do mâu thuẫn với Liên minh châu Âu.

9. Những người bạn nước ngoài: Trung Quốc mở rộng quan hệ với Ấn Độ và Pakistan
Richard D. Fisher Jr.
Jane's Intelligence Review, 2/2/2007, 3 trang
Những cuộc tập trận chung chống khủng bố giữa Trung Quốc và Pakistan cho thấy Bắc Kinh muốn trấn an Islamabad trong bối cảnh quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ đang tiếp tục phát triển.

NHỮNG VẤN ĐỀ TOÀN CẦU VÀ MÔI TRƯỜNG

10. Quốc hội có thể kiểm soát khí hậu không?
Barry Rabe
NYU John Brademas Center for the Study of Congress Research Brief #1, tháng 3/2007, 13 trang
Tài liệu bàn về một số khó khăn đối với cam kết trước đây của Quốc hội và nêu lên  những thách thức cụ thể về quản lý và chính sách đối với bất kỳ nỗ lực nào của Quốc hội trong tương lai nhằm giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

11. Chưa sẵn sàng đối phó với Đại dịch
Michael T. Osterholm
Foreign Affairs, Tháng 3-4/2007, 11 trang
Tác giả khẳng định, sớm muộn gì thì đại dịch cúm gia cầm cũng sẽ làm khuynh đảo thế giới, thế nhưng cả thế giới lại chưa sẵn sàng đối phó với nó. Ngay cả sự lây lan của cúm gà cũng không buộc được các nhà hoạch định chính sách quốc gia phải đưa ra cam kết. Họ là những người đang phải hứng chịu nhiều bất trắc và đối diện với nhu cầu cạnh tranh về nguồn lực. Tác giả kêu gọi các chính phủ hãy đưa ra các chiến lược quốc gia để đối phó với đại dịch và chi nhiều hơn nữa cho nghiên cứu sản xuất vắc-xin cúm gia cầm.

12. Dọc theo những con đập
Jane C. Marks
Scientific American, tháng 3/2007, 6 trang
Trong những năm gần đây, rất nhiều con đập trên thế giới đã bị phá dỡ do chi phí duy trì quá cao. Việc này khiến sản lượng điện năng giảm hoặc gây ra xung đột với các cộng đồng muốn các sông được chảy tự do. Mặc dù việc phá dỡ các con đập trả lại cho sông trạng thái lưu thông tự nhiên hơn và giúp tái sản sinh các loài sinh vật bản địa khi chất lượng nước được cải thiện, nhưng những tác động không thể lường trước được có thể lại lớn hơn những lợi ích này.

BÁO CHÍ, TRUYỀN THỐNG VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

13. Cuộc đua
Robert Kuttner
Columbia Journalism Review, tháng 3-4/2007, 9 trang
Bài viết bàn về tương lai của các tờ báo truyền thống khi phải cạnh tranh với phương tiện ngày càng phổ biến và thông dụng là Internet. Một kịch bản được đưa ra theo đó giới báo chí chính thống vừa kiếm được tiền từ Internet mà vẫn tuân theo nguyên tắc liêm chính của báo chí truyền thống và duy trì tính chuyên nghiệp.

14. Phóng viên có phải là “những người thổi bùng nhiệt huyết con người” của thế kỷ 21 không?
William Dietrich
Nieman Reports, Winter 2006, 4 pages
Tác giả cho rằng các nhà báo mạng không chuyên ngày nay hiếm khi giữ được sự cân bằng và khách quan - niềm tự hào của nghề nghiệp. Ông đặt vấn đề liệu có phải cuộc cách mạng công nghệ đã làm giảm vai trò của phóng viên trong một nền dân chủ hay không. Vai trò đó không chỉ dừng lại ở việc đưa tin mà còn phải giúp người dân hiểu được tầm quan trọng của những tin tức đó.

15. Mashup, Blog, Wikis buộc Chính phủ Liên bang phải minh bạch hơn
Laura Gordon-Murnane
Searcher, tháng 3/2007, 7 trang
Buộc chính phủ phải minh bạch là một công việc khó khăn và đầy thách thức, nhưng tác giả cho rằng nhiều cá nhân, các nhóm cổ súy, các thư viện, các tổ chức phi lợi nhuận, thậm chí cả các cơ quan chính phủ trên cả nước đang sử dụng các công cụ kỹ thuật để buộc tất cả các nhánh của chính phủ Mỹ phải minh bạch, cởi mở và có trách nhiệm hơn với người dân. Tác giả đưa ra các tiểu xảo sử dụng các công nghệ mới như blog, wiki, mashup và các công cụ tương tự để theo dõi chính phủ.

CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA MỸ

16. Sự minh bạch trong lớp học
James M. Lang
The Chronicle of Higher Education, 6/4/ 2007, 4 trang
Tác giả cho rằng những giáo viên giỏi nhất là những người dành thời gian để giải thích cho học sinh tại sao lại học những gì chúng đang học. Ông khẳng định việc giảng dạy hiệu quả nhất là giảng dạy minh bạch: Cả học sinh và giáo viên đều hiểu lý do dẫn tới những quyết định lớn về một khóa học, từ sự lựa chọn sách và các hoạt động học tập tới cách tính điểm và chuẩn bị các kỳ thi.

17. Những môi trường làm việc thuận lợi
Jodie Levin-Epstein
The American Prospect, tháng 3/2007, 3 trang

Bài viết này phân tích chính sách nghỉ phép và các điều kiện làm việc khác của các công nhân Mỹ và việc không có chính sách nghỉ phép vẫn tính lương hoặc các kế hoạch làm việc dài khiến các bậc cha mẹ khó có thể giải quyết được các vấn đề gia đình. Tác giả cho rằng trong môi trường làm việc với những điều kiện có tính chất hỗ trợ nhu cầu gia đình sẽ giúp tăng sức sản xuất của công nhân, tạo sự hài lòng và giữ chân được công nhân và có thể có tác động tích cực đối với khả năng thu lợi nhuận.

18. Phục hồi và Hoà nhập cộng đồng những nạn nhân buôn người ở Mỹ
Rachel Shigekane
Human Rights Quarterly, February 2007, 25 trang
Chúng ta ít được biết nạn nhân buôn người hoà nhập với cộng đồng mới như thế nào và những loại hình dịch vụ và chương trình phục hồi họ cần để có thể sống một cách độc lập và tự chủ. Bài viết này xem xét những nhu cầu của những nạn nhân buôn người, các loại hình dịch vụ và chương trình hỗ trợ đang được xây dựng nhằm giúp đỡ họ, và phản ứng phức tạp của các cộng đồng di cư trước các vụ buôn người.

19. Các nền dân chủ xuất hiện như thế nào: Ảo tưởng trình tự
Thomas Carothers
Tạp chí Dân chủ, tháng 1/2007, 16 trang
Nhiều nhà phê bình cho rằng trước khi một xã hội được dân chủ hoá, pháp quyền và một nhà nước vận hành tốt phải tồn tại, tuy nhiên tác giả khẳng định chiến lược theo trình tự này lại dựa trên một loạt những tiền đề sai lầm.

20. Hiệp ước Hoà bình Dân chủ
Tod Lindberg
The Weekly Standard, 12/2007, 6 trang
Tác giả lập luận rằng các nền dân chủ tự do, trưởng thành không bao giờ gây chiến với nhau và thường giải quyết các tranh chấp bằng con đường hoà bình. Ông khẳng định các nền dân chủ trưởng thành thường chia xẻ các giá trị chung và cổ xuý cho các giá trị tự do chẳng hạn như tôn trọng nhân quyền và các cuộc bầu cử tự do và công bằng. Ông chủ trương xây dựng một tổ chức quốc tế mới bằng việc thông qua một Hiệp ước Hoà bình Dân chủ nhằm giúp đỡ các nền dân chủ mới - trong đó có nhiều nền dân chủ non trẻ và mong manh - thực hiện lý tưởng này.

21. Các cuộc chiến tranh thông tin
Heather Greenfield
National Journal, 24/2/2007, 2 trang
Tác giả xem xét tính hiệu quả của việc sử dụng các công cụ tìm kiếm trên Internet với tư cách là công cụ vận động tranh cử mới, chẳng hạn như các quảng cáo về công cụ tìm kiếm gắn với các từ khoá hoặc các cụm từ, và googlebombing - cách đưa các tin bài lên đầu tiên trong các kết quả tìm kiếm của Google. Các nhà tư vấn tự do và bảo thủ nói đây là một trong những công cụ vận động tranh cử hiệu quả nhất trong những tuần cuối cùng của các chiến dịch tranh cử năm 2006 và chúng sẽ lại được sử dụng trong năm 2008. 

 

TƯ LIỆU DỊCH

22. Bài viết của Đại sứ Marine về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
25/4/2007, 3 trang

23. Bài viết của Đại sứ Marine về tình hình nhân quyền Việt Nam
5/04/2007, 2 trang

24. Phát biểu của Đại sứ Marine trước Câu lạc bộ Chicago - Từ thù đến bạn: Tăng cường sự can dự của Mỹ ở Việt Nam
27/3/07, 5 trang

Các bài sau trích từ Cái giá phải trả của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 1/2007

25. Tại sao lại tự do hoá thương mại?
Christina Sevilla, Phó trợ lý Đại diện thương mại Mỹ
6 trang
Tự do hoá thương mại thúc đẩy tăng trưởng và giúp hàng triệu người thoát khỏi đói nghèo.

26. Chủ nghĩa bảo hộ và Chính trị
Bruce Stokes, International Economics Columnist
National Journal, 4 trang
Phản ứng trước áp lực chính trị, các chính phủ đã bảo vệ các nhà sản xuất trước hàng hoá nhập khẩu. Khi vấn đề bảo hộ là vấn đề chính trị thì cần phải có giải pháp.

27. Các nước đang phát triển cần mở cửa thị trường cho nhau
David Dollar, Giám đốc phụ trách Trung Quốc và Mông Cổ, Ngân hàng Thế giới
4 trang
Một nửa lợi ích của các nước đang phát triển từ các cuộc đàm phán thương mại đa phương bị trì hoãn sẽ thu được từ việc tiếp cận tốt hơn các thị trường của nhau.

28. Giảm bớt nỗi lo sợ của công nhân về thương mại
David H. Feldman, Giáo sư kinh tế học, Đại học William and Mary
4 trang

Hầu hết những thay đổi ở nơi làm việc dẫn tới tình trạng mất việc là do những tiến bộ về công nghệ, tuy nhiên càng ngày hàng hoá nhập khẩu càng trở thành tiêu điểm để công nhân đổ lỗi.

29. Học bài học đúng đắn về chủ nghĩa bảo hộ
Gary Hufbauer, Nghiên cứu viên cao cấp, and Costantino Pischedda, Trợ lý nghiên cứu, Viện Kinh tế Quốc tế Peterson
3 trang

Các nền kinh tế Đông Á bị chiến tranh tàn phá nhanh chóng sử dụng các chính sách bảo hộ để khôi phục lại các nền kinh tế của họ, nhưng chỉ khi mở cửa các thị trường cho hàng nhập khẩu lúc đó họ mới nhận thức được sự mở rộng nhanh chóng và lâu dài của các nền kinh tế.

30. Một mô hình cải cách rõ ràng
Jonathan Kimball, Vụ trưởng Vụ Trung và Nam Âu, Bộ thương mại Mỹ
3 trang

Có sự khác biệt rõ rệt về phát triển kinh tế giữa các nước thuộc khối Liên Xô cũ, những nước đã mở cửa thị trường và một số ít không mở cửa thị trường của họ.

31. Tổ chức Thương mại Thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa bảo hộ như thế nào
Carla A. Hills, Chủ tịch và Giám đốc Điều hành, Hills & Company
4 trang

Tổ chức Thương mại Thế giới là thành trì lớn nhất thế giới chống lại sự bảo hộ. 

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ