Các tài liệu khác
VIỆT NAM: CÁC RÀO CẢN NGOẠI THƯƠNG
Nguồn: Đại diện Thương mại Mỹ, 2004 TÓM TẮT TÌNH HÌNH THƯƠNG MẠI
Thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Việt nam đã đạt mức 3,2 tỷ đô-la năm 2003, tăng thêm 1,4 tỷ đô-la so với mức 1,8 tỷ đô-la năm 2002. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Hoa Kỳ năm 2003 là 1,3 tỷ đô-la, tăng 128,3% so với năm trước đó. Kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam của Hoa Kỳ đạt 4,6 tỷ đô-la, tăng 90,2%. Việt Nam hiện nay là thị trường lớn thứ 52 đối với hàng hóa xuất khẩu của Hoa Kỳ. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt nam đạt 179 triệu đô-la năm 2002 so với 141 triệu đô-la năm 2001.
CHÍNH SÁCH NHẬP KHẨU
Thuế quan
Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam được hợp lý hóa vào năm 1992 và đơn giản hóa vào năm 1999 sau khi Việt Nam gia nhập Khu vực tự do mậu dịch ASEAN (AFTA). Hiện nay, có ba loại thuế suất: thuế suất tối huệ quốc (MFN) áp dụng cho khoảng 75% tổng lượng hàng hóa nhập khẩu từ khoảng 80 nước có hiệp định thương mại song phương với Việt Nam, trong đó có Hoa Kỳ; thuế suất ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN; và thuế suất chung (cao hơn thuế suất MFN là 50%) áp dụng cho tất cả các nước khác. Theo tinh thần của Hiệp định Thương mại Hoa Kỳ-Việt Nam (Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ), Việt Nam có nghĩa vụ giảm đáng kể các mức thuế suất, trung bình khoảng từ 1/3 đến 1/2 đối với một loạt các hàng hóa nhập khẩu từ Hoa Kỳ trong khoảng thời gian là 3 năm.
Ngày 1/9/2003, Việt Nam áp dụng một hệ thống thuế quan mới dựa trên Hệ thống hài hòa có tám mã số và theo đúng Biểu thuế hài hòa của ASEAN (AHTN). Hệ thống thuế quan mới bao gồm 10.689 dòng thuế (nhiều hơn biểu thuế cũ là 4.200 dòng), trong đó 5.300 dòng theo hệ từ bốn đến sáu mã số và 5.400 dòng theo hệ tám mã số. Hiện nay, có 15 mức thuế suất (so với 20 mức trong biểu thuế cũ) và mức thuế suất trung bình đã tăng từ 16,8% lên 18,2%. Để thực hiện hệ thống thuế quan mới, Chính phủ Việt Nam đã tăng mức thuế suất đối với 195 mặt hàng và giảm mức thuế suất đối với 106 mặt hàng. Để bảo hộ 72 mặt hàng, trừ bột và hạt nhựa PVC và ống thép hàn, biện pháp phụ thu chênh lệch giá đã được thay thế bằng thuế nhập khẩu. Mức thuế suất đối với xăng dầu (mục 2709 và 2710) không được cụ thể hóa trong biểu thuế mới.
Quốc hội giữ thẩm quyền quyết định biên độ thuế đối với từng sản phẩm và Chính phủ được tự do điều chỉnh các mức thuế suất trong biên độ xác định. Biểu thuế nhập khẩu không được đưa lên mạng trực tuyến và thường rất khó khi muốn biết các mức thuế suất đã thay đổi khi nào và bao nhiêu.
Rào cản phi thuế quan
Các rào cản phi thuế quan (NTB) được áp dụng ở Việt Nam khi nước này chuyền từ nền kinh tế quản lý tập trung sang kinh tế thị trường vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 và nhanh chóng trở thành một thành tố chủ yếu trong chính sách thương mại của Việt Nam. Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc giảm sử dụng các rào cản phi quan thuế và theo tinh thần của Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Việt Nam đồng ý loại bỏ tất cả các rào cản phi quan thuế, bao gồm các hạn chế nhập khẩu và xuất khẩu, hạn ngạch, yêu cầu cấp giấy phép và các biện pháp kiểm soát đối với tất cả các hạng mục hàng hóa và dịch vụ trong thời gian từ ba đến bảy năm, tuỳ theo từng sản phẩm.
Cấm nhập khẩu: Việt Nam hiện nay đang cấm nhập khẩu với mục đích thương mại đối với những sản phẩm sau: vũ khí và đạn dược, chất nổ (không kể chất nổ dùng trong công nghiệp), thiết bị và phương tiện kỹ thuật quân sự, ma tuý, hóa chất độc, các sản phẩm văn hóa “độc hại", pháo, một số loại đồ chơi trẻ em, thuốc lá, hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, phương tiện vận tải tay lái nghịch, phụ tùng đã qua sử dụng dùng cho phương tiện vận tải, động cơ đốt trong đã qua sử dụng dưới 30 sức ngựa, amiăng, các thiết bị mã hóa và phần mềm mã hoá.
Hạn chế số lượng và giấy phép không tự động: Việt Nam đang loại bỏ dần việc sử dụng biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu. Các sản phẩm sau đây vẫn chịu biện pháp hạn chế số lượng: đường, sản phẩm dầu khí, xi-măng và clanke, một số hóa chất phổ biến, phân hóa học, sơn, săm lốp, giấy, lụa, gốm (xây dựng), kính xây dựng, thép xây dựng, một số loại động cơ, một số loại ô-tô, mô-tô, xe đạp và phụ tùng xe đạp, tàu và thuyền. Hạn chế số lượng đối với hàng xuất khẩu đã được loại bỏ đối với hầu hết các ngành hàng trừ dệt, may mặc và một số hàng hóa trong danh mục nhạy cảm. Tháng 5/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định thực hiện áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với một số nông sản nhất định trước đây không chịu hạn ngạch, trong đó bông, nguyên liệu thuốc lá và muối là ba sản phẩm được thực hiện thử bắt đầu từ 1/7/2003. Trong thời gian áp dụng thử, giấy phép nhập khẩu đối với những mặt hàng này được cấp phù hợp với mức cầu để từ đó xác định một lượng hạn ngạch cho những năm tiếp theo. Sữa nguyên liệu, ngô bắp và trứng gia cầm là những sản phẩm sẽ được áp dụng vào năm 2004.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được tự do nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam. Các doanh nghiệp này chỉ được phép nhập khẩu hàng hóa để sử dụng làm yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất cũng như thiết bị máy móc, phương tiện vận tải và các nguyên vật liệu sử dụng trong xây dựng và lắp đặt các dự án của họ theo đúng quy định trong giấy phép đầu tư.
Quy định quản lý đặc biệt: Trước đây, các nhà nhập khẩu cần phải được sự đồng ý của các bộ liên quan để nhập khẩu nhiều hàng hoá. Hệ thống này đã được thay đổi vào năm 2001. Hiện nay, bảy bộ và cục, vụ đang chịu trách nhiệm giám sát một hệ thống tiêu chuẩn chất lượng và thực hiện tối thiểu để bảo vệ động thực vật, đảm bảo an toàn sức khoẻ, tương thích trên mạng thông tin trong nước (đối với viễn thông), bảo đảm an ninh tiền tệ, và sự nhạy cảm về văn hoá. Hàng hóa đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu có thể được nhập vào theo nhu cầu thị trường và không hạn chế về số lượng và trị giá.
Hệ thống ngoại hối: Năm 1998, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) ban hành yêu cầu kết hối ngoại tệ đối với tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đến tháng 5/2002, một loạt các đợt giảm đã hạ thấp yêu cầu này từ mức 80% ngoại tệ thu được xuống còn 30%. Tháng 4/2003, Quyết định 46 của Chính phủ đã giảm yêu cầu tỷ lệ kết hối xuống 0%. Tháng 5/2000, Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi, theo đó cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mua ngoại tệ tại các ngân hàng được Chính phủ cho phép để thanh toán cho các giao dịch thường xuyên và mua sắm máy móc thiết bị, và các giao dịch được phép khác. Các biện pháp kiểm soát đối với các giao dịch qua tài khoản vãng lai đã được xóa bỏ. Một nghị định ban hành vào năm 1998 cho phép người nước ngoài thường trú và không thường trú mở và duy trì tài khoản ngoại tệ tại các ngân hàng được Chính phủ cho phép tại Việt Nam. Một thông tư ban hành năm 2001 cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chuyển lợi nhuận và các thu nhập hợp pháp khác ra khỏi Việt Nam khi cung cấp cho các ngân hàng nói trên những chứng từ hợp lệ. Một nghị định ban hành năm 2003 quy định Chính phủ đảm bảo hỗ trợ cân đối nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh với nước ngoài đang đầu tư vào xây dựng hạ tầng cơ sở và một số dự án quan trọng khác trong trường hợp các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ không có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngoại tệ của họ.
Hải quan: Việt Nam đang loại bỏ dần chế độ giá nhập khẩu tối thiểu trong việc xác định trị giá tính thuế. Số lượng nhóm hàng hóa phải áp dụng cách tính trị giá tối thiểu đã giảm từ 34 nhóm vào năm 1997 xuống còn bảy nhóm vào năm 2000. Các nhóm này bao gồm các loại đồ uống giải khát; săm và lốp xe, tấm chắn bùn dùng cho xe hơi; mô-tô và xe đạp; gạch lát sàn và thiết bị vệ sinh; kính xây dựng và ruột phích; động cơ; quạt điện; và thuốc lá chưa chế biến..
Theo Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Việt Nam hiện nay có nghĩa vụ phải áp dụng trị giá giao dịch đối với hàng hóa nhập khẩu từ Hoa Kỳ và phải đảm bảo rằng bất kỳ một loại phí hoặc lệ phí hành chính nào do hải quan áp đặt liên quan đến việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu bất kỳ loại hàng hóa nào cũng không được vượt quá trị giá thực tế của dịch vụ do hải quan thực hiện. Việt Nam cũng cam kết áp dụng trị giá giao dịch đối với hàng nhập khẩu từ các nước ASEAN. Tháng 6/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 60 quy định các quy tắc định giá hải quan dựa trên trị giá giao địch theo đúng các nguyên tắc của WTO. Nghị định 60 áp dụng đối với hàng hóa được nhập khẩu từ các nước mà Việt Nam đã cam kết thực hiện định giá hải quan. Mặc dù không có ngoại lệ nào được quy định trong Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Nghị định 60 bảo lưu quyền của Việt Nam được áp dụng giá tính thuế tối thiểu đối với một loạt các mặt hàng “nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước và sản xuất trong nước”. Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ ngành khác đang soạn thảo danh sách các mặt hàng nói trên.
Quyền thương mại: Theo Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, sau ba năm kể từ khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực thi hành, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của các công dân và công ty của Hoa Kỳ trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp có thể tiến hành các hoạt động thương mại đối với hầu hết các sản phẩm và có thể tham gia các liên doanh với đối tác Việt Nam để tiến hành các hoạt thương mại đối với tất cả các sản phẩm chừng nào đối tác Hoa Kỳ giữ không quá 49% cổ phần trong liên doanh. Bảy năm sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, các công ty Hoa Kỳ có thể thành lập các công ty thương mại ở Việt Nam. Quyền được tiến hành hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa nhất định sẽ có hiệu lực sau một thời hạn.
TIÊU CHUẨN, THỬ NGHIỆM, NHÃN MÁC VÀ CHỨNG NHẬN
Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành một danh mục các hàng nhập khẩu và xuất khẩu chịu sự quản lý chất lượng của nhà nước. Các hàng hóa này được liệt kê theo mã HS và được phân nhóm theo sự quản lý các cơ quan chức năng bao gồm Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công nghiệp, Bộ Thuỷ sản, và Bộ Khoa học và Công nghệ. Hệ thống này phức tạp và không phải bao giờ cũng rõ ràng: một số mặt hàng phải theo các tiêu chuẩn nhà nước; một số khác lại tuân theo các qui định của các cơ quan chức năng; một số khác lại tuân theo cả hai loại. Các mặt hàng khác lại theo tiêu chuẩn GOCT (là các tiêu chuẩn của Liên Xô cũ mà hiện vẫn còn áp dụng cho chất nổ và các phụ kiện đi kèm với chất nổ). Các nhà xuất khẩu và nhập khẩu phải có giấy phép của các cơ quan chức năng hoặc một biên nhận cho biết hàng hóa đã được giám định vào thời điểm thông quan.
VIỆC MUA SẮM CỦA CHÍNH PHỦ
Các hoạt động mua sắm của chính phú có thể được coi là một quá trình ra quyết định qua nhiều tầng nấc, thường thiếu tính minh bạch và hiệu quả. Mặc dù Bộ Tài chính là cơ quan phân bổ ngân sách nhưng nhiều vụ thuộc bộ hoặc cơ quan liên quan lại quyết định nhu cầu mua sắm Chính phủ. Cạnh tranh trong hoạt động mua sắm Chính phủ có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như: đàm phán trực tiếp với nhà cung cấp duy nhất, đấu thầu hạn chế, đấu thầu công khai, chỉ định thầu hoặc mua sắm đặc biệt. Hiện nay, các bộ và cơ quan có những quy định khác nhau về trị giá tối thiểu khi mua nguyên liệu hoặc thiết bị theo hình thức bắt buộc đấu thầu cạnh tranh. Các hợp đồng trị giá cao hoặc quan trọng như trong các dự án hạ tầng cơ sở (trừ các dự án của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, UNDP hoặc dự án viện trợ phát triển chính thức song phương) đòi hỏi phải thẩm định thầu và chọn thầu và được quyết định bởi Thủ tướng Chính phủ hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác. Danh sách tổng hợp hoặc danh sách công bố chính thức các nhà thầu Chính phủ không được phát hành; tuy nhiên một số thư mời thầu được công bố trên các báo bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
TRỢ CẤP XUẤT KHẨU
Tín dụng xuất khẩu được cấp rất hạn chế ở Việt Nam. Quỹ Hỗ trợ Xuất khẩu do Bộ Tài chính quản lý cung cấp các khoản trợ cấp dưới hình thức hỗ trợ lãi suất vốn vay và hỗ trợ tài chính trực tiếp (đối với các doanh nghiệp lần đầu xuất khẩu, cho hàng xuất khẩu vào thị trường mới hoặc đối với hàng hóa chịu nhiều biến động lớn về giá cả). Quỹ này còn chi thưởng xuất khẩu. Kể từ năm 1998, khoản tiền thưởng trung bình dành cho các doanh nghiệp được bình chọn nằm trong khoảng từ 2.900 đến 4.710 đô-la. Việc chi thưởng xuất khẩu, ban đầu chỉ áp dụng cho hàng nông sản xuất khẩu, được mở rộng vào năm 2002 đối với các hàng hóa khác như thủ công mỹ nghệ, đồ mây tre, sản phẩm nhựa và sản phẩm cơ khí.
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Việt Nam là một thành viên của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) và đã ký tham gia Công ước Pari về Sở hữu Công nghiệp. Việt Nam đã tham gia Hiệp định Hợp tác về Đăng ký phát minh sáng chế và Thỏa thuận Mađrit. Mặc dù hiện chưa phải là thành viên của Công ước Bern, Việt Nam đã đồng ý trong Hiệp định Bảo vệ quyền tác giả Việt Nam-Hoa Kỳ ký năm 1997 sẽ bảo hộ quyền tác giả của Hoa Kỳ trên nguyên tắc đối xử ngang bằng quốc gia theo các điều khoản của công ước này. Theo Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Việt Nam có nghĩa vụ vào tháng 12/2003 phải đảm bảo hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của họ, kể cả việc thực thi, phù hợp với Hiệp định TRIPS của WTO. Việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã đạt được tiến bộ đáng kể trong một vài năm gần đây. Văn bản luật mới ban hành trong năm nay bao gồm các quy định về bảo hộ quyền tác giả về kiến trúc, sơ đồ bố trí mạch tích hợp và các biện pháp xác định ranh giới. Tuy nhiên, tiến trình cải cách luật pháp vẫn chưa hoàn thành.
Việc thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn quá yếu. Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có các biện pháp khắc phục ngay lập tức để phòng ngừa và ngăn chặn các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả các thủ tục tư pháp và hành chính đặc biệt, các biện pháp tạm thời có hiệu lực ngay thức thì khi có đầy đủ bằng chứng, và các thủ tục và chế tài hình sự đối với việc cố ý giả mạo thương hiệu hoặc vi phạm quyền tác giả hoặc quyền kề cận vì mục đích thương mại.
Phát minh sáng chế và thương hiệu
Đăng ký thương hiệu ở Việt Nam tương đối đơn giản mặc dù việc vi phạm thì tràn lan và việc thực thi lệnh hành chính và phán quyết của tòa án trong các vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều vấn đề. Luật pháp Việt Nam quy định một sự bảo hộ nhất định đối với những chủ sở hữu phát minh sáng chế nhưng vẫn có các vụ vi phạm. Cục Sở hữu Trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đang quản lý hệ thống đăng ký phát minh sáng chế và thương hiệu của Việt Nam. Cục này đã đạt được tiến bộ đáng kể trong vài năm gần đây trong việc xây dựng đủ năng lực để lưu giữ và giải quyết các khiếu nại về phát minh sáng chế và thương hiệu, và hiện nay đang phối hợp với một loạt các cơ quan đăng ký phát minh sáng chế và thương hiệu của nước ngoài để nâng cao hệ thống của họ. Quy định trong Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ yêu cầu phải giải quyết khiếu nại nhanh chóng và xử lý về mặt hành chính đối với những vi phạm về phát minh sáng chế và thương hiệu vẫn còn khó thực hiện. Mặc dù Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ quy định đối xử ngang bằng quốc gia về phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, các mức phí đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp áp dụng đối với các tổ chức và cá nhân nước ngoài vẫn con cao hơn rất nhiều so với công dân Việt Nam.
Quyền tác giả
Cơ quan bảo hộ Quyền tác giả Việt Nam nằm dưới sự quản lý và giám sát của Bộ Văn hóa và Thông tin. Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc ban hành các luật mới liên quan đến bảo hộ quyền tác giả, bao gồm cả những quyền của người nước ngoài, nhưng việc thực thi thì hầu như không có. Điều này hoàn toàn đúng đối với một số nhóm sản phẩm nhất định như phần mềm máy tính, đĩa nhạc và hình, và đĩa hình DVD. Ước tính tỷ lệ ăn cắp bản quyền phần mềm máy tính, âm nhạc và hình ảnh lên tới 99%. Cơ quan công an địa phương thường chậm chạp trong việc thi hành lệnh hành chính để xử lý vi phạm và thực thi phán quyết của tòa án.
RÀO CẢN DỊCH VỤ
Theo Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Việt Nam lần đầu tiên đồng ý tự do hóa một số lớn ngành dịch vụ bao gồm viễn thông, kế toán, ngân hàng và dịch vụ phân phối, và áp dụng quy chế đối xử tối huệ quốc đối với các nhà cung cấp dịch vụ của Hoa Kỳ trong tất cả các ngành và tất cả các phương thức cung cấp (trừ các ngoại lệ). Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ cũng đưa nội dung Hiệp định của WTO về Thương mại dịch vụ (trừ đoạn 3 và 4), Phụ lục về đi lại của tự nhiên nhân, Phụ lục về Viễn thông (trừ đoạn 6 và 7), và Tài liệu tham khảo về Viễn thông. Cam kết tự do hóa tiếp cận thị trường dịch vụ của Việt Nam được thực hiện sau những khoảng thời gian cụ thể tuỳ theo lĩnh vực. Các cam kết theo ngành như sau:
Dịch vụ kế toán và kiểm toán: Ba năm đầu tiên sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, giấy phép sẽ được cấp theo từng trường hợp. Công ty kinh doanh dịch vụ phải có ít nhất năm nhân viên được cấp chứng chỉ kế toán viên chuyên nghiệp ở Việt Nam và đã hành nghề hơn một năm. Trong hai năm đầu kể từ khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, các công ty có vốn của Hoa Kỳ chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án do nước ngoài tài trợ ở Việt Nam. Không được phép mở chi nhánh.
Dịch vụ thuế: Năm năm đầu tiên sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, giấy phép sẽ được cấp tuỳ trường hợp và các công ty có vốn của Hoa Kỳ chỉ được phép cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án do nước ngoài tài trợ ở Việt Nam. Không được phép mở chi nhánh.
Dịch vụ kiến trúc, kỹ thuật và máy tính: Trong hai năm đầu tiên kể từ khi thành lập và hoạt động, các công ty của Hoa Kỳ chỉ có thể cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Các công ty của Hoa Kỳ phải có đăng ký hợp pháp ở Hoa Kỳ. Không được phép mở chi nhánh. Các công ty của Hoa Kỳ và các công ty có vốn đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ không được phép thực hiện điều tra địa hình, xây dựng, địa chất, khí tượng thuỷ văn và môi trường; hoặc các khảo sát kỹ thuật để xây dựng kế hoạch xây dựng nông thôn-đô thị, trừ khi được Chính phủ Việt Nam cho phép.
Dịch vụ pháp lý: Theo Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, các công ty 100% vốn của Hoa Kỳ, công ty liên doanh với Hoa Kỳ và chi nhánh được phép cung cấp dịch vụ pháp lý. Các luật sư Hoa Kỳ không thể tham gia tố tụng tại tòa án ở Việt Nam. Tuy nhiên, các công ty luật của Hoa Kỳ có thể tư vấn về luật Việt Nam nếu họ thuê người những người được cấp bằng luật của Việt Nam và thỏa mãn các yêu cầu như áp dụng đối với các luật sư của Việt Nam. Chi nhánh công ty luật có thể được phép hoạt động theo giấy phép có thể gia hạn năm năm mỗi lần. Tháng 7/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 87 cải cách căn bản khuôn khổ quản lý các hoạt động của luật sư và công ty luật nước ngoài hành nghề tại Việt Nam. Nghị định đã mở rộng đáng kể phạm vi nội dung hoạt động của các công ty luật nước ngoài ở Việt Nam. Luật sư nước ngoài được phép tư vấn về luật nước ngoài và quốc tế trong các lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại, vốn trước đây bị cấm. Bằng những cải cách này, các công ty luật nước ngoài hiện nay có thể cung cấp đầy đủ dịch vụ pháp lý và tuyển dụng luật sư người Việt Nam.
Dịch vụ quảng cáo và nghiên cứu thị trường: Việt Nam hiện chưa chấp thuận việc mở cửa thị trường dịch vụ quảng cáo đối với rượu vang và thuốc lá hoặc việc dịch vụ nghiên cứu thị trường do nước ngoài thực hiện. Các công ty Hoa Kỳ trong các lĩnh vực này chỉ có thể bước đầu thiết lập sự hiện diện về mặt thương mại thông qua các liên doanh hoặc các hợp đồng hợp tác kinh doanh với các đối tác Việt Nam. Đầu tư của phía Hoa Kỳ bị giới hạn ở mức 49% vốn pháp định trong năm năm đầu tiên theo Hiệp định Thương mại song phương, tiếp đó là 51% trong năm thứ sáu và bảy và sau đó là không hạn chế. Việt Nam hiện vẫn chưa chấp thuận việc đảm bảo quy chế đối xử ngang bằng quốc gia trong việc cung cấp các dịch vụ nghiên cứu thị trường do nước ngoài thực hiện.
Tư vấn quản lý: Các công ty Hoa Kỳ chỉ có thể thiết lập sự hiện diện về mặt thương mại thông qua các liên doanh hoặc các hợp đồng hợp tác kinh doanh. Năm năm sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, các doanh nghiệp 100% vốn của Hoa Kỳ sẽ được phép thành lập.
Dịch vụ viễn thông: Ban đầu, việc cung cấp các dịch vụ viễn thông cơ bản, dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng, và dịch vụ điện thoại hữu tuyến chỉ được phép thông qua các hợp đồng kinh doanh với các công ty quản lý điều hành cổng viễn thông ở Việt Nam. Theo Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, đến tháng 12 năm 2003 (tháng 12 năm 2004 đối với các dịch vụ Internet), các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng của Hoa Kỳ có thể thành lập các liên doanh với đối tác Việt Nam với tỷ lệ vốn góp của phía Hoa Kỳ lên tới 50%. Tuy nhiên, các liên doanh này có thể không được tự xây dựng các đường truyền dài và đường truyền quốc tế. Bốn năm sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản của Hoa Kỳ có thể thành lập các liên doanh với các đối tác Việt Nam với tỷ lệ vốn góp của phía Hoa Kỳ tới 49%. Tuy nhiên, các liên doanh này có thể không được xây dựng các đường truyền dài và quốc tế. Sáu năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại hữu tuyến của Hoa Kỳ có thể thành lập liên doanh với các đối tác Việt Nam với tỷ lệ vốn góp của phía Hoa Kỳ tới 49%.
Các dịch vụ nghe nhìn: Việt Nam hiện chưa chấp thuận mở cửa thị trường hoặc áp dụng quy chế đối xử ngang bằng quốc gia đối với việc cung cấp liên quốc gia hoặc tiêu dùng ở nước ngoài các dịch vụ nghe nhìn. Các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể thiết lập sự hiện diện về mặt thương mại thông qua các hợp đồng kinh doanh hoặc liên doanh với các đối tác Việt Nam. Trong vòng năm năm đầu tiên sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, vốn sở hữu của phía Hoa Kỳ không được vượt 49%. Sau năm năm, vốn sở hữu của phía Hoa Kỳ không được vượt quá 51%.
Các dịch vụ xây dựng và kỹ thuật liên quan: Việt Nam hiện chưa chấp thuận mở cửa thị trường hoặc áp dụng quy chế đối xử ngang bằng quốc gia đối với việc cung cấp từ bên ngoài các dịch vụ xây dựng và kỹ thuật liên quan. Các chi nhánh hiện chưa được phép thành lập. Trong vòng ba năm đầu sau khi thành lập và hoạt động, các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu của Hoa Kỳ chỉ có thể cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Các công ty Hoa Kỳ phải đăng ký hoạt động hợp pháp tại Hoa Kỳ.
Các dịch vụ phân phối: Việt Nam hiện chưa chấp thuận mở cửa thị trường hoặc áp dụng quy chế đối xử ngang bằng quốc gia đối với việc cung cấp dịch vụ phân phối từ bên ngoài. Ba năm sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể thành lập các công ty liên doanh với đối tác Việt Nam với tỷ lệ vốn góp của Hoa Kỳ là 49%. Sau sáu năm, vốn sở hữu của Hoa Kỳ trong các liên doanh sẽ không bị hạn chế. Sau bảy năm, các công ty 100% vốn sẽ được phép thành lập. Mỗi công ty có thể thiết lập một đại lý bán lẻ khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, và việc có thêm các đại lý sẽ được xem xét theo từng trường hợp cụ thể. Đối với một số sản phẩm công nghiệp và nông sản, việc mở cửa các thị trường này phụ thuộc vào các hạn chế bổ sung, sẽ được loại bỏ dần trong thời gian từ ba đến năm năm. Có một số lượng hạn chế các sản phẩm mà Việt Nam không cam kết cho phép thực hiện dịch vụ phân phối.
Dịch vụ giáo dục: Việt Nam sẽ không mở cửa thị trường hoặc dành quy chế đối xử ngang bằng quốc gia đối với việc cung cấp dịch vụ giáo dục từ bên ngoài. Trong bảy năm đầu sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, các công ty Hoa Kỳ chỉ có thể thiết lập sự hiện diện về mặt thương mại thông qua các liên doanh. Sau đó, các trường học 100% vốn đầu tư của Hoa Kỳ có thể được thành lập. Giáo viên nước ngoài làm việc cho các tổ chức giáo dục có vốn đầu tư của Hoa Kỳ phải có ít nhất năm năm kính nghiệm giảng dạy và phải được Bộ Giáo dục Việt Nam công nhận.
Dịch vụ bảo hiểm: Việt nam chấp thuận mở cửa thị trường đối với việc cung cấp từ bên ngoài các dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài hoặc người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; dịch vụ tái bảo hiểm; dịch vụ bảo hiểm vận tải quốc tế; môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm; và các dịch vụ tư vấn, giải quyết khiếu nại và đánh giá rủi ro. Ba năm sau khi Hiệp định Thương mại Viêt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, các công ty Hoa Kỳ có thể thành lập các liên doanh với các đối tác Việt Nam với tỷ lệ vốn góp lên đến 50%. Sau năm năm, các công ty 100% vốn đầu tư của Hoa Kỳ có thể được thành lập. Các công ty có vốn đầu tư của Hoa Kỳ không được bán bảo hiểm trách nhiệm của bên thứ ba đối với xe có động cơ, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm các dự án dầu khí hoặc bảo hiểm đối với các dự án và xây dựng có mức độ nguy hiểm cao đối với an ninh công cộng và môi trường. Ba năm sau khi Hiệp định Thương mại có hiệu lực, hạn chế này sẽ được bãi bỏ đối với các liên doanh. Sau sáu năm, hạn chế này sẽ được loại bỏ đối với các công ty 100% vốn của Hoa Kỳ. Trong năm năm đầu từ khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, bất kỳ công ty nào có vốn đầu tư của Hoa Kỳ cũng bắt buộc phải tái bảo hiểm một phần các trách nhiệm bảo hiểm đã cam kết (hiện mức tối thiểu là 20%) qua công ty Tái bảo hiểm của Việt Nam.
Ngân hàng: Việt Nam chưa đồng ý mở cửa thị trường hoặc dành đối xử ngang bằng quốc gia cho việc cung cấp từ bên ngoài các dịch vụ ngân hàng, ngoại trừ dịch vụ thông tin tài chính và tư vấn, trung gian tài chính và các dịch vụ phụ trợ khác. Các ngân hàng Hoa Kỳ có thể thành lập chi nhánh, liên doanh với các ngân hàng Việt Nam, với các công ty cho thuê tài chính thuộc sở hữu của Hoa Kỳ hoặc các công ty cho thuê tài chính liên doanh với các đối tác Việt Nam.
Trong ba năm đầu sau khi Hiệp định Thương mại Viêt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, hình thức hợp pháp duy nhất, ngoài ngân hàng và công ty cho thuê, mà các công ty Hoa Kỳ có thể sử dụng để cung cấp dịch vụ tài chính là thông qua các liên doanh với các ngân hàng Việt Nam. Trong vòng chín năm đầu, tỷ lệ vốn góp của các công ty Hoa Kỳ trong các ngân hàng liên doanh sẽ từ 30 đến 49%. Sau chín năm, việc sở hữu 100% vốn của các ngân hàng trực thuộc sẽ được cho phép.
Quyền của phía Hoa Kỳ được nhận tiền gửi bằng tiền Việt Nam giống như các ngân hàng trong nước sẽ được phép sau tám năm đối với các khách hàng doanh ngiệp và là 10 năm đối với các khách hàng cá nhân. Sau đó, các chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ sẽ được hưởng quy chế đối xử ngang bằng quốc gia một cách đầy đủ. Việt Nam đang hoàn thành nghĩa vụ này bằng cách dần cho phép các ngân hàng Hoa Kỳ tăng lượng tiền gửi bằng tiền Việt Nam so với vốn pháp định đã đóng của chi nhánh ở mức hiện nay là 250%. (Trước khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, tỷ lệ này là 25%). Ngoài ra, các tổ chức tài chính có vốn của Hoa Kỳ không thể phát hành thẻ tín dụng trên cơ sở đối xử ngang bằng quốc gia sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ đã có hiệu lực được tám năm. Hiện nay các ngân hàng Hoa Kỳ được phép đặt các máy trả tiền tự động ở bên ngoài văn phòng trên cơ sở đối xử ngang bằng quốc gia.
Việt Nam bảo lưu quyền được hạn chế, trên cơ sở quy chế đối xử ngang bằng quốc gia, đầu tư vốn của ngân hàng Hoa Kỳ vào các ngân hàng quốc doanh của Việt Nam đã được cổ phần hoá.
Các chi nhánh, ngân hàng trực thuộc hoặc các liên doanh của ngân hàng Hoa Kỳ phải có giấy phép thiết lập sự hiện diện về mặt thương mại ở Việt Nam. Một ngân hàng mẹ của Hoa Kỳ phải có tối thiểu 15 triệu đô-la tiền vốn đầu tư để thành lập một chi nhánh. Để thành lập một ngân hàng liên doanh Hoa Kỳ-Việt Nam hoặc một ngân hàng trực thuộc của Hoa Kỳ đòi hỏi vốn tối thiểu là 10 triệu đô-la. Trong ba năm đầu tiên sau khi Hiệp định Thương mại có hiệu lực, các tổ chức tài chính thuộc sở hữu Hoa Kỳ không thể nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất. Sau ba năm, các tổ chức này sẽ được phép nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và có thể thanh lý tài sản thế chấp hoặc quyền sử dụng đất trong trường hợp mất khả năng thanh toán.
Để thành lập một công ty con thuộc một công ty cho thuê tài chính của Hoa Kỳ hoặc một công ty liên doanh cho thuê đòi hỏi công ty phải hoạt động có lãi trong ba năm liên tục và vốn pháp định là năm triệu đô-la. Trong ba năm đầu theo Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Việt Nam không có nghĩa vụ phải áp dụng quy chế đối xử ngang bằng quốc gia liên quan đến việc tái chiết khấu với ngân hàng trung ương, nghiệp vụ hoán chuyển và giao dịch có kỳ hạn. Tuy nhiên, năm 2003 Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã cho phép một ngân hàng Hoa Kỳ có chi nhánh ở Việt Nam (và một số ngân hàng trong nước) được phép cung cấp thí điểm dịch vụ hoán chuyển.
Dịch vụ tài chính phi ngân hàng: Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ cho phép Hoa Kỳ đầu tư 100% vốn góp trong việc cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính và trong các loại hình cho thuê khác sau ba năm.
Dịch vụ liên quan đến chứng khoán: Việt Nam chưa đồng ý mở cửa thị trường hoặc áp dụng đối xử ngang bằng quốc gia đối với việc cung cấp từ bên ngoài các dịch vụ liên quan đến mua bán chứng khoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán phi ngân hàng chỉ có thể thiét lập sự hiện diện về thương mại ở Việt Nam dưới hình thức một văn phòng đại diện.
Dịch vụ y tế: Các nhà cung cấp dịch vụ của Hoa Kỳ có thể cung cấp dịch vụ bằng cách thành lập cơ sở y tế 100% vốn của Hoa Kỳ, liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc qua các hợp đồng hợp tác kinh doanh. Vốn đầu tư tối thiểu là 20 triệu đô-la đối với một bệnh viện, 2 triệu đô-la đối với một phòng khám đa khoa và 1 triệu đô-la đối với một cơ sở khám chuyên khoa.
Dịch vụ du lịch và lữ hành: Các công ty Hoa Kỳ có thể thiết lập sự hiện diện về thương mại để cung cấp dịch vụ khách sạn và nhà hàng với điều kiện là việc này nằm trong kế hoạch đầu tư xây dựng một khách sạn. Sự hiện diện về mặt thương mại có thể dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc công ty 100% vốn của Hoa Kỳ.
Có một số hạn chế liên quan đến các đại lý lữ hành và nhà cung cấp dịch vụ du lịch. Các công ty Hoa Kỳ cung cấp những dịch vụ này chỉ có thể thiết lập sự hiện diện thông qua một liên doanh với đối tác Việt Nam và ban đầu chỉ có thể góp vốn với tỷ lệ 49%. Ba năm sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ có hiệu lực, tỷ lệ góp vốn có thể tăng lên 51% và tất cả các hạn chế sẽ bị bãi bỏ sau năm năm. Hướng dẫn viên du lịch trong các liên doanh phải là công dân Việt Nam. Các công ty dịch vụ du lịch có vốn của Hoa Kỳ chỉ được cung cấp dịch vụ du lịch trong nước.
RÀO CẢN ĐẦU TƯ
Hiện nay, Chính phủ Việt Nam duy trì một quy trình cấp giấy phép đầu tư có đặc điểm là rất nghiêm ngặt và tốn thời gian, thường là nhằm mục đích bảo hộ lợi ích trong nước, hạn chế cạnh tranh và phân chia quyền được tiến hành đầu tư nước ngoài cho nhiều nước khác nhau. Doanh nghiệp nước ngoài được phép chuyển lợi nhuận, thu nhập cổ phiếu từ liên doanh, thu nhập từ cung cấp dịch vụ và chuyển giao công nghệ, vốn sở hữu hợp pháp và tài sản bằng ngoại tệ mạnh. Người nước ngoài cũng được phép chuyển ra nước ngoài phí cấp phép sản xuất và phí được trả do cung cấp dịch vụ và chuyển giao công nghệ, tiền vốn gốc và lãi thu được từ các khoản cho vay vì mục đích kinh doanh, và vốn đầu tư và các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của họ.
Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ ở Việt Nam nhằm làm tăng đáng kể thuận lợi trong môi trường đầu tư đối với các công ty của Hoa Kỳ. Nghĩa vụ của Việt Nam về hoạt động đầu tư theo Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ bao gồm: áp dụng quy chế đối xử ngang bằng quốc gia và tối huệ quốc, trừ khi có các trường hợp ngoại lệ được quy định rõ ràng; đảm bảo việc quốc hữu hóa theo đúng các tiêu chuẩn quốc tế; và đảm bảo giải quyết tranh chấp quyền lợi giữa nhà nước và nhà đầu tư với bên thứ ba. Tuy nhiên, trên thực tế việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề.
Ngoài ra, Việt Nam có nghĩa vụ theo Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ phải dần ngừng áp dụng các Biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) hoặc các yêu cầu thực hiện không phù hợp với nội dung thỏa thuận về TRIMS của WTO. Việt Nam cũng có nghĩa vụ phải ngừng áp đặt các yêu cầu đối với việc chuyển giao công nghệ như là điều kiện để được thành lập, mở rộng, mua lại, quản lý hoặc điều hành một dự án đầu tư. Việt Nam hiện nay đang áp đặt một loạt các yêu cầu thực hiện có liên quan đến việc thành lập một doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và/hoặc được nhận lợi ích hoặc biện pháp khuyến khích. Việt Nam vẫn duy trì các hạn chế đối với việc người nước ngoài mua cổ phần của các công ty Việt Nam mặc dù tỷ lệ đã tăng từ 20% lên 30%. Tháng 3 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 27 sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài theo đó xóa bỏ yêu cầu cân đối thương mại và các biện pháp quản chế ngoại hối. Tháng 4, Chính phủ ban hành quyết định giảm tỷ lệ kết hối ngoại tệ xuống 0%.
Nghị định 27 còn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tuyển dụng nhân công Việt Nam mà không phải thông qua các cơ quan tuyển dụng lao động trong nước. Tuy nhiên, vào tháng 9 Việt Nam ban hành Nghị định 105 quy định rằng tất cả các doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam chỉ được thuê người lao động nước ngoài với số lượng thấp hơn 1) tỷ lệ tối đa là 3% tổng số lao động của doanh nghiệp hoặc 2) 50 người. Trả lời các ý kiến khiếu nại của cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài, Chính phủ nói rằng sẽ ban hành văn bản để làm rõ nội dung của nghị định và quy định các miễn trừ đối với một số lĩnh vực và hình thức tuyển dụng nhất định.
Trong Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Việt Nam cam kết sẽ chuyển dần sang chế độ đăng ký đầu tư đối với hầu hết các lĩnh vực. Theo Nghị định 27, các hình thức đầu tư sau đây không cần giấy phép đầu tư: các dự án đầu tư trong đó xuất khẩu 80% sản phẩm; đầu tư vào các dự án “được khuyến khích” hoặc “đặc biệt khuyến khích” ở các khu công nghiệp (với một số ngoại lệ); và đầu tư vào lĩnh vực chế tạo với trị giá vốn đầu tư đến 5 triệu đô-la.
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Cho đến nay, thương mại điện tử vẫn chưa đạt được nhiều tiến bộ ở Việt Nam. Các rào cản đối với sự phát triển là: số lượng thuê bao Internet trong nước thấp, hàng rào tường lửa dày đặc, băng thông hạn chế và các vấn đề khác về hạ tầng Internet, hạn chế của hệ thống tài chính (bao gồm số lượng thẻ tín dụng lưu hành còn thấp), và các rào cản về quản lý. Tuy nhiên, đã có những tiến triển gần đây nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam như chấp nhận chữ ký điện tử là hợp pháp và thực hiện hệ thống giao dịch điện tử liên ngân hàng. Số lượng các giao dịch trên mạng trực tuyến đang tăng lên. Bộ Thương mại đã đi đầu trong việc soạn thảo một pháp lệnh mới về thương mại điện tử với nhiều khả năng sẽ có hiệu lực thi hành vào tháng 9 năm 2004.
Chính phủ Việt Nam tiếp tục cố gắng kiểm soát chặt chẽ tất cả các Website được đặt ở Việt Nam. Tháng 10 năm 2002, Chính phủ Việt Nam thông qua một quy định mới về việc xây dựng và sửa đổi nội dung các Website. Quy định này yêu cầu các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp ở trong nước và nước ngoài phải có giấy phép của Bộ Văn hóa và Thông tin trước khi xây dựng các Website mới. Bộ này sẽ có 30 ngày để quyết định việc cấp giấy phép. Quy định trên cũng yêu cầu các đoàn ngoài giao và các tổ chức nước ngoài khác phải có văn bản đồng ý của Bộ Ngoại giao trước khi xin giấy phép của Bộ Văn hóa và Thông tin. Việt Nam cũng yêu cầu các tổ chức phải xin giấy phép của Bộ Văn hóa và Thông tin trước khi sửa đổi nội dung của các website đang hoạt động dựa trên các yêu cầu cấp giấy phép trong quy định trên.
CÁC RÀO CẢN KHÁC
Các công ty của Hoa Kỳ, của các nước khác và các công ty trong nước đã nhận thấy nạn tham nhũng ở Việt Nam hiện diện ở trong tất cả các giai đoạn của hoạt động kinh doanh như một rào cản đối với các hoạt động kinh doanh của họ. Việt Nam được 2,6 điểm trên thang điểm 10 trong Chỉ số nhận biết tham nhũng của tổ chức Transparency International. Phần lớn là do thiếu sự minh bạch, tính trách nhiệm và tự do báo chí nên nạn tham nhũng và sự không hiệu quả lan tràn trong bộ máy cơ quan nhà nước vẫn là một vấn đề nghiêm trọng đến mức Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam thừa nhận rằng họ phải khẩn cấp giải quyết vấn nạn này. Sự cạnh tranh giữa các cơ quan nhà nước để giành quyền kiểm soát đối với hoạt động kinh doanh và đầu tư đã tạo ra sự chồng chéo về thẩm quyền, quy trình xét duyệt và phê chuẩn và từ đó tạo ra cơ hội cho tệ tham nhũng phát triển. Tiền lương công chức thấp cộng với hệ thống ràng buộc trách nhiệm của công chức không đủ mạnh làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn. Việc thực hiện chương trình cải cách hành chính công của Chính phủ Việt Nam với sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới, cũng như trách nhiệm của Việt Nam về minh bạch hóa quy định trong Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ hứa hẹn một số cải thiện trong vấn đề này về trung và dài hạn nhưng xem ra khó có khả năng sẽ có nhiều cải thiện trong thời gian tới.
Việt Nam duy trì một chính sách có xu hướng hỗ trợ các ngành công nghiệp hướng vào thị trường trong nước, nhất là những ngành do các doanh nghiệp nhà nước kiểm soát. Mặc dù tất cả các công ty có đăng ký bất kể hình thức sở hữu đều có thể tham gia một cách hợp pháp vào hoạt động ngoại thương nhưng vẫn có những rào cản ngăn trở hoạt động thương mại của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Ví dụ, các yêu cầu quản lý ngặt ngèo của các bộ làm ngăn trở các công ty tư nhân không được xuất khẩu gạo hoặc nhập khẩu phân hóa học. Cũng như vậy, sự độc quyền trong sản xuất dẫn đến độc quyền trong thương mại, như trong trường hợp than đá. Cơ cấu mức thuế suất cũng hỗ trợ các ngành công nghiệp trong nước, nhất là những ngành do các doanh nghiệp nhà nước kiểm soát. Phần lớn những mức thuế suất thấp hơn đều đánh vào các mặt hàng do các doanh nghiệp này bao tiêu để sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất.
Tháng 4 năm 2003, Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký Hiệp định Dệt may. Hiệp định Dệt may này giúp các nhà sản xuất dệt may trong nước của Hoa Kỳ bằng việc đưa Việt Nam tham gia vào hệ thống hạn ngạch dệt may toàn cầu và giúp các nhà nhập khẩu của chúng ta bằng việc đảm bảo sự chắc chắn và tránh khả năng không dự đoán trước những hạn chế phát sinh đơn phương, ngẫu nhiên và thường xuyên. Hiệp định này còn có một điều khoản về lao động. Cả hai bên đều tái khẳng định cam kết với tư cách là thành viên của ILO và cũng thể hiện sự ủng hộ của họ đối với việc thực hiện các quy tắc về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như một cách để cải thiện điều kiện lao động trong ngành dệt may. Hiệp định này cũng yêu cầu xem xét những tiến bộ đạt được trong mục tiêu cải thiện điều kiện làm việc trong ngành dệt may thông qua các cuộc tham vấn giữa Bộ Lao động Hoa Kỳ và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội của Việt Nam.