Quan hệ Mỹ-Việt
2006 CÓ THỂ ĐƯỢC COI LÀ NĂM CÓ CHUYỂN BIẾN LỚN TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ
Washington File, ngày 29/3/2006 Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Cục Đông Á-Thái Bình Dương
Điều trần của Phó Trợ lý Bộ trưởng Eric G. John
về tình hình nhân quyền tại Việt Nam
Tiểu ban về châu Á-Thái Bình Dương và
Tiểu ban về châu Phi, tình hình nhân quyền trên toàn cầu và hoạt động quốc tế của ủy ban Đối ngoại
Ngày 29 tháng 3 năm 2006
Xin cảm ơn quý vị đã cho tôi cơ hội trình bày trước Tiểu ban ngày hôm nay.
Cuộc điều trần này diễn ra đúng thời điểm, không chỉ vì có sự bắt đầu lại cuộc đối thoại song phương về nhân quyền giữa hai nước, mà còn bởi vì sự hội tụ của của những vấn đề và sự kiện có tiềm năng làm cho năm 2006 trở thành năm có ý nghĩa bước ngoặt trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Thưa ngài Chủ tịch, trước khi đi sâu hơn vào chủ đề hôm nay, tôi xin cảm ơn ngài đã có mối quan tâm từ lâu đối với Việt Nam. Nhiều chuyến thăm của ngài tới Việt Nam cũng như tiếng nói quan trọng của ngài về vấn đề nhân quyền và việc khuyến khích tự do tôn giáo đã giúp mang lại những thay đổi tích cực tại Việt Nam.
Sự biến đổi phi thường
Trong những lần điều trần trước đây trước ủy ban, tôi đã mô tả Đông Nam Á như một khu vực năng động và thú vị. Không có cách mô tả nào thích hợp hơn về tình hình Việt Nam hiện tại. Quốc gia này đang trải qua sự biến đổi phi thường từ một nền kinh tế mệnh lệnh, hướng nội và nghèo đói, hầu như không có không gian cho những sáng kiến cá nhân, sang một xã hội cởi mở hơn với một nền kinh tế thị trường tự do, năng động đang cố gắng gắn kết với thế giới bên ngoài rộng lớn.
Tôi nhớ rằng, lần đầu tiên tôi đến Việt Nam năm 1989 để phỏng vấn những người xin tham gia Chương trình Ra đi có Trật tự, Việt Nam đã cản trở một cách có ý thức sự xâm nhập của thế giới bên ngoài. Một cán bộ mặc quân phục đã thu gom tất cả những tờ báo mà chiếc máy bay cập cảng vừa loại ra, còn các nhân viên hải quan Việt Nam thì tịch thu bất kỳ loại tài liệu nào mà du khách cố tìm cách đưa vào đất nước này. Bây giờ, tình hình đã rất khác. Giống như những hàng hóa và dịch vụ đến từ nước ngoài khác, các tờ báo quốc tế đều sẵn có và được bày bán rộng rãi tại hành lang các khách sạn và Việt Nam hiện là điểm đến của hàng trăm ngàn khách du lịch, nhiều người trong số họ là người Mỹ.
Việc đi lại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã gia tăng nhanh chóng. Điều này không chỉ thể hiện qua số lượng khách du lịch, doanh nhân, số người Mỹ gốc Việt trở về quê hương đầu tư, buôn bán, thăm người thân hoặc kết hôn, mà còn qua số lượng ngày càng gia tăng những người Việt Nam tới nước Mỹ. Việc cấp visa sinh viên và đào tạo vào Hoa Kỳ đã đạt tới số lượng cao là 3.448 trong năm 2005, tăng 124% so với năm 2001. Số lượng visa du lịch và kinh doanh cũng đã tăng mạnh trong năm ngoái, lên tới con số 21.765, tăng 55% so với năm 2001.
Vào giữa những năm 1980, Việt Nam đã thừa nhận sự thất bại của học thuyết kinh tế Mác-xít và đã từ bỏ học thuyết kinh tế này để theo đuổi chính sách “đổi mới”. Mục tiêu của chính sách này là thúc đẩy phát triển kinh tế. Chính phủ đã nhận thấy nhu cầu gắn kết với nền kinh tế thế giới; thu hút thương mại, đầu tư và công nghệ từ nước ngoài; vươn tới Hoa Kỳ và những thị trường khác nữa.
Kể từ đó, chúng ta đã phát triển quan hệ với Việt Nam vì lợi ích của cả hai nước. Theo thời gian, Việt Nam đã có tiến bộ nhất định về nhân quyền và đã cho phép sự tự do cá nhân nhiều hơn, bởi vì quốc gia này thừa nhận rằng không thể tăng trưởng nền kinh tế của đất nước mình mà không giải phóng sự năng động của người dân và tăng cường các mối quan hệ với cộng đồng quốc tế. Với tỉ lệ tăng trưởng 8%, đất nước này hiện là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Sự háo hức học tiếng Anh, kinh doanh và các lĩnh vực công nghệ cao của người dân Việt Nam đã mang đến cho chúng ta cơ hội to lớn để cùng làm việc với họ một cách xây dựng.
Việc Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực từ tháng 12 năm 2001 đã dẫn tới sự gia tăng thương mại lớn - từ khoảng 1,5 tỉ đô-la giá trị thương mại hai chiều năm 2001 lên 7,8 tỉ đô-la vào năm 2005, cũng như sự tăng cường hợp tác trong lĩnh vực cải cách kinh tế.
Việc kinh doanh của Hoa Kỳ đã có những thuận lợi từ sự mở cửa mới này của Việt Nam, thông qua hoạt động đầu tư với tổng trị giá khoảng 730 triệu đô-la từ năm 1998 đến năm 2005. Gần đây nhất, Intel đã thông báo kế hoạch đầu tư 300 triệu đô-la vào Việt Nam để lắp ráp và kiểm tra các vi mạch tăng cường cho máy tính cá nhân và điện thoại di động. Tổng đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ và đầu tư từ các công ty con ở nước thứ ba của Hoa Kỳ đã làm cho chúng ta trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam.
Từ 24 đến 26 tháng 3 tại Geneva, chúng ta đã tiến hành một vòng đàm phán về gia nhập WTO với các đại diện của Chính phủ Việt Nam. Mặc dù, Chính phủ Hoa Kỳ vẫn đang trong quá trình đánh giá những đề nghị mà Việt Nam đưa ra và đang tham khảo ý kiến các ngành, song rõ ràng là chúng ta đang tiến đến gần một thỏa thuận sẽ cho phép mở cửa thị trường, cải thiện các quy định thương mại của Việt Nam, và cho phép cả Hoa Kỳ và Việt Nam tiếp cận những cơ chế giải quyết tranh chấp sẽ có lợi cho các công ty của Hoa Kỳ. Kết quả của những cuộc đàm phán này sẽ mở đầu cho việc bỏ phiếu ở Quốc hội để Việt Nam được hưởng Quy chế Thương mại Bình thường vĩnh viễn (PNTR).
Mở rộng các mối quan hệ
Do Việt Nam ngày càng tăng cường mở cửa và hội nhập vào cộng đồng toàn cầu, những mối quan hệ và tác động qua lại giữa hai nước cũng đã được mở rộng nhanh chóng.
Trong cuộc gặp lịch sử giữa Thủ tướng Phan Văn Khải với Tổng thống Bush tại Nhà trắng ngày 21/6/2005 nhân dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hai nhà lãnh đạo đã thỏa thuận hợp tác nhằm thúc đẩy hòa bình, thịnh vượng và ổn định tại Đông Nam Á; nâng tầm mối quan hệ song phương và tăng cường tất cả các loại hình tiếp xúc giữa chính phủ và người dân hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam.
Ngoài cuộc Đối thoại về Nhân quyền, chúng ta cũng đang thảo luận một cách thẳng thắn một phạm vi rộng lớn các vấn đề khu vực, bởi vì hai bên thừa nhận rằng chúng ta ngày càng có nhiều lợi ích chung. Chính phủ Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực và nhận thấy tầm quan trọng của những mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với các tổ chức khu vực, chẳng hạn như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Hiện tại, chúng ta có các chuyến thăm thường xuyên của các tàu hải quân Hoa Kỳ tới các cảng biển Việt Nam, và chúng ta cũng nhận được sự hợp tác tốt từ phía Chính phủ Việt Nam trong việc xác định và hồi hương hài cốt của những quân nhân Mỹ đã mất trong cuộc chiến ở Việt Nam. Đã có 599 người Mỹ được nhận diện và được đưa về nước kể từ năm 1973 tới nay, và chúng ta vẫn đang tiếp tục các nỗ lực của mình. Chúng tôi đang yêu cầu phía Việt Nam giúp đỡ nhiều hơn nữa trong việc tìm kiếm hài cốt của những người còn lại.
Sự giúp đỡ ngày càng tăng
Trong Tuyên bố chung ngày 21/6/2005, Tổng thống Bush và Thủ tướng Phan Văn Khải cũng đã nhất trí “tăng cường hợp tác song phương và đa phương về những vấn đề xuyên quốc gia, như cuộc chiến toàn cầu chống chủ nghĩa khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán chất gây nghiện, buôn người; các vấn đề y tế và nhân đạo, trong đó có việc ngăn ngừa bệnh dịch, đặc biệt là HIV/AIDS và cúm gia cầm”.
Chúng ta đang tiến hành những bước tiếp theo của cam kết này thông qua việc cung cấp cho Việt Nam 34 triệu đô-la trong năm tài khóa 2006, theo Kế hoạch Cứu trợ khẩn cấp của Tổng thống dành cho nạn nhân AIDS, nhằm hỗ trợ các chương trình ngăn ngừa, chăm sóc và điều trị chống HIV/AIDS. Với sự cung cấp tài chính này, những chương trình do Hoa Kỳ hỗ trợ sẽ tới được 5 triệu thanh niên qua những thông điệp về phòng ngừa, tư vấn và kiểm tra HIV cho 97.000 cá nhân và chăm sóc cho 1.500 trẻ mồ côi và những trẻ dễ bị tổn thương khác. Trong năm tài khóa 2007, sự cung cấp tài chính của chúng ta dự kiến sẽ vượt 50 triệu đô-la và số người được chăm sóc và điều trị từ các chương trình do Hoa Kỳ hỗ trợ sẽ tăng gấp đôi.
Từ năm 2004 đến 2006, Hoa Kỳ đã cam kết hỗ trợ 24 triệu đô-la thông qua Bộ Y tế và Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) để cải thiện hệ thống thú y và cơ sở y tế của Việt Nam nhằm ngăn chặn dịch cúm gia cầm tại Việt Nam, nơi có 50 triệu gia cầm đã bị tiêu hủy và 42 trường hợp tử vong. Ngành công nghiệp của Hoa Kỳ cũng đang tham gia vào nỗ lực quan trọng này.
Hoa Kỳ hỗ trợ năng lực chống khủng bố cho Việt Nam qua việc đào tạo cảnh sát, do Học viện Thực thi Pháp luật Quốc tế tại Băng Cốc (ILEA) thực hiện và thông qua các hoạt động trao đổi quân sự. Chúng ta cũng đang cố gắng mở rộng hợp tác song phương trong việc chống buôn bán các chất gây nghiện bất hợp pháp. Chúng ta cũng đang hỗ trợ cho các chương trình chống buôn người của các tổ chức phi chính phủ hoạt động tại khu vực biên giới với Trung Quốc và Căm-pu-chia. Ngoài ra, chúng ta cũng hỗ trợ cho hoạt động phá mìn và các vũ khí chưa nổ khác vì mục đích nhân đạo và bảo đảm an toàn thương mại.
Thông qua Chương trình Hỗ trợ Xúc tiến Thương mại (STAR) do USAID thực hiện, chúng ta thúc đẩy cải cách thương mại và hải quan trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, và giúp đỡ quốc gia này kịp thời điều chỉnh các đạo luật dân sự và thương mại và thực hiện các cam kết trong Hiệp định Thương mại Tự do song phương Hoa Kỳ - Việt Nam (BTA). STAR đã hoạt động có hiệu quả bởi nó giúp tăng cường vai trò lập pháp của Quốc hội Việt Nam, cải thiện môi trường kinh doanh cho các công ty Hoa Kỳ và tạo điều kiện phù hợp cho việc gia tăng thành công và thu nhập cho tất cả những người tham gia vào nền kinh tế Việt Nam.
Chúng ta có một chương trình nhỏ Giáo dục và Huấn luyện Quân sự Quốc tế (IMET), trong đó chúng ta đào tạo tiếng Anh cho các sĩ quan Việt Nam. Việc tăng cường năng lực đó là quan trọng đối với các sĩ quan Việt Nam nhằm giúp họ tham gia các bài tập huấn luyện và các chiến dịch gìn giữ hòa bình trong tương lai.
Chương trình Fulbright tại Việt Nam, dành 5 triệu đô-la cho các chương trình truyền thống cho các sinh viên và học giả, cộng với 1,5 triệu đô-la dành cho Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những chương trình lớn nhất trên thế giới. Quỹ Fulbright cung cấp tài chính cho hoạt động trao đổi sinh viên và học giả và một chương trình kéo dài một năm dành cho những nhà quản lý và những nhà hoạch định chính sách đang theo đuổi sự nghiệp của mình.
Một trong những nguồn học bổng quan trọng khác dành cho các sinh viên hàng đầu Việt Nam là Quỹ Giáo dục Việt Nam do Liên bang cung cấp tài chính. Mục tiêu của Quỹ là tăng cường quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thông qua trao đổi giáo dục về khoa học và công nghệ.
Năm 2006, Quốc hội đã chuẩn chi hai triệu đô-la cho các Quỹ Hỗ trợ Kinh tế dành cho các cá nhân và cộng đồng tại Tây Nguyên của Việt Nam. Chúng tôi đã báo cáo Quốc hội kế hoạch ban đầu việc sử dụng các quỹ này và sẽ có những quyết định về tài chính trong tương lai gần.
Nhân quyền và tự do tôn giáo
Như Trợ lý Bộ trưởng Lowenkron và Đại sứ Hanford đã trình bày chi tiết, Việt Nam vẫn còn những thiếu sót nghiêm trọng trong việc tôn trọng nhân quyền và quyền tự do tôn giáo và chính trị. Các công dân Việt Nam không thực sự có quyền biểu quyết. Chính phủ, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng Cộng sản, đưa ra những hạn chế khắt khe về tự do ngôn luận mang tính chính trị, hạn chế tiếp cận Internet và tiếp tục chặn sóng của Đài châu Á Tự do. Ngoài ra, Việt Nam vẫn nằm trong danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC) do những vi phạm nghiêm trọng về tự do tôn giáo. Chúng tôi đang trực tiếp giải quyết những vấn đề quan trọng này qua cuộc Đối thoại Nhân quyền và các cuộc đối thoại ngoại giao hàng ngày với Chính phủ Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng có những diễn biến tích cực cần được ghi nhận trên mặt trận nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam. Đó là Pháp lệnh về Tín ngưỡng và Tôn giáo được công bố tháng 7/2004 và hướng dẫn việc thực hiện những quy định của Pháp lệnh này; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ tháng 2/2005 về đạo Tin lành, ngăn cấm việc bắt buộc từ bỏ tín ngưỡng; và việc trao đổi thư từ ngày 5/5/2005 giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Những việc làm này thể hiện cam kết mở rộng phạm vi quyền tự do tôn giáo của Việt Nam. Chúng tôi hoan nghênh việc phóng thích nhà hoạt động vì dân chủ Nguyễn Đan Quế và người bất đồng chính kiến - cha Nguyễn Văn Lý, mặc dù những người khác, trong đó có bác sĩ Phạm Hồng Sơn vẫn còn bị giam giữ, và chúng tôi vẫn đang cố gắng để những người này được trả tự do. Việt Nam có thể và cần làm nhiều hơn nữa.
Năm có chuyển biến lớn
Tôi coi 2006 là năm có chuyển biến lớn trong quan hệ hai nước. Trên cơ sở động lực tích cực của chuyến thăm của Thủ tướng Phan Văn Khải vào năm ngoái, chúng tôi đang cố gắng kết thúc thành công các cuộc đàm phán song phương về WTO với Việt Nam với một thỏa thuận có lợi cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam và giúp Việt Nam gia nhập WTO.
Theo hướng này, tôi mong muốn được làm việc với Quốc hội khi Quốc hội xem xét vấn đề Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn với Việt Nam. Chúng tôi cũng sẽ tiếp tục thúc đẩy để có những cải thiện về nhân quyền và tự do tôn giáo. Đáng chú ý nhất trong những nỗ lực của chúng ta nhằm thúc đẩy quan hệ song phương trong năm 2006 sẽ là chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Bush nhân dịp tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) do Chính phủ Việt Nam tổ chức vào tháng 11.
Tóm lại, chúng ta đang đạt được tiến bộ trên nhiều lĩnh vực với Việt Nam. Trong việc đối đầu với các vấn đề xuyên quốc gia, tăng cường thịnh vượng và thúc đẩy ổn định khu vực, lợi ích của Việt Nam đang ngày càng gắn chặt với lợi ích của chúng ta, và về nhân quyền và các vấn đề liên quan, chúng ta đang thu hẹp khoảng cách. Nhìn về phía trước, chúng ta đang đứng trước một năm đầy những cơ hội cho cả hai nước nhằm theo đuổi những lợi ích chung và để tăng cường mối quan hệ quan trọng này.
Xin cảm ơn. Rất vui được lắng nghe câu hỏi của quý vị.