Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ
(Cập nhật tháng 3/2009)
Sau 20 năm quan hệ bị gián đoạn và đầy khó khăn, ngày 11/7/1995 Tổng thống Clinton đã tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam. Sau tuyên bố bình thường hoá quan hệ của Tổng thống Clinton, tháng 8/1995 hai nước đã nâng cấp Văn phòng Liên lạc được mở tháng 1/1995 lên thành Đại sứ quán. Khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước đã phát triển, Hoa Kỳ đã mở Lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam mở Lãnh sự quán tại San Francisco.
Kể từ khi bình thường hoá quan hệ chính trị, hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ngày càng gia tăng và mở rộng. Một loạt các cuộc gặp thượng đỉnh song phương giúp thúc đẩy cải thiện quan hệ, trong đó có chuyến thăm của Tổng thống Bush tới Hà Nội tháng 11/2006, chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới Oa-sinh-tơn tháng 6/2007 và chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Oa-sinh-tơn tháng 6/2008. Hai nước đã tổ chức đối thoại thường niên về nhân quyền, được nối lại năm 2006 sau hai năm gián đoạn.
Tháng 7/2000, hai nước đã ký Hiệp định Thương mại Song phương. Hiệp định này có hiệu lực tháng 12/2001. Năm 2003, hai nước đã ký Hiệp định Chống Buôn bán Ma tuý (sửa đổi năm 2006), ký Hiệp định Hàng không Dân dụng, và hiệp định về Hàng Dệt may. Tháng 1/2007, Quốc hội thông qua Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn cho Việt Nam (PNTR). Tháng 10/2008, Hoa Kỳ và Việt Nam đã tổ chức đối thoại chính trị-quân sự và đối thoại về hoạch định chính sách nhằm mục đích tham vấn về các vấn đề an ninh và chiến lược. Hợp tác ngoại giao cũng được mở rộng trong khuôn khổ ASEAN và APEC và trong nhiệm kỳ 2 năm Việt Nam đảm nhiệm chức thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc bắt đầu từ tháng 1/2008.
Việc Việt Nam đàn áp những nhân vật bất đồng chính kiến vẫn là vấn đề bất đồng chính trong quan hệ với Hoa Kỳ, khiến Chính quyền và Quốc hội Mỹ phải lên tiếng chỉ trích. Đầu năm 2007, Chính phủ Việt Nam đã đàn áp các nhân vật bất đồng. Tháng 11 cùng năm Chính quyền Việt Nam đã bắt giam một nhóm nhà hoạt động ủng hộ dân chủ, trong đó có hai người Mỹ. Tháng 5/2008, hai người Mỹ này đã được thả. Năm 2008, Chính phủ Việt Nam thắt chặt kiểm soát quyền tự do báo chí và ngôn luận và kết án hai phóng viên vì đưa tin tham nhũng trong hàng ngũ cấp cao. Một người viết nhật ký mạng cũng đã bị bắt giam sau khi viết về tham nhũng và phản đối hành động của Trung Quốc liên quan đến hai quần đảo tranh chấp là Hoàng Sa và Trường Sa.
Tuy nhiên, Việt Nam tiếp tục đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc mở rộng quyền tự do tôn giáo. Năm 2005, Việt Nam đã thông qua đạo luật toàn diện về quyền tự do tôn giáo, theo đó việc ép cải đạo là trái luật và cho phép chính thức công nhận các giáo đoàn mới. Ghi nhận những tiến bộ này, tháng 11/2006 Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “các nước cần quan tâm đặc biệt” vì cho rằng Việt Nam không còn là quốc gia vi phạm nghiêm trọng các quyền tự do tôn giáo như quy định trong Đạo Luật Tự do Tôn giáo Quốc tế. Tháng 11/2007 Bộ Ngoại giao Mỹ tiếp tục giữ nguyên quyết định này. Việc Chính phủ Việt Nam sách nhiễu một số chức sắc tôn giáo vì hoạt động chính trị của họ, kể cả các chức sắc thuộc Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam không được công nhận, vẫn là vấn đề mà Hoa Kỳ quan ngại.
Ngày 14/12/2007, Chính phủ Hoa Kỳ lên danh sách 1.763 người Mỹ chưa tìm thấy ở Đông Nam Á, trong đó có 1.353 người ở Việt Nam. Kể từ năm 1973, 883 người Mỹ đã được tìm thấy, trong đó có 627 người được tìm thấy ở Việt Nam. Thêm vào đó, Bộ Quốc Mỹ phòng xác nhận có 196 người “lần cuối được biết vẫn còn sống”, chính phủ Hoa Kỳ đã xác định được số phận của hầu hết số này, còn lại 31 người chưa xác định được. Hoa Kỳ coi việc tìm kiếm đầy đủ nhất có thể những người Mỹ đã mất tích và chưa được tìm thấy ở Đông Dương là một trong những ưu tiên quan trọng nhất trong quan hệ với Việt Nam.
Kể từ khi Hiệp định Thương mại Song phương Mỹ-Việt có hiệu lực ngày 10/12/2001, thương mại Hoa Kỳ-Việt Nam gia tăng, cộng với nguồn đầu tư lớn của Mỹ ở Việt Nam, đây là bằng chứng cho sự phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ. Năm 2007, trị giá hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam đạt 1.9 tỉ đô la, và nhập khẩu từ Việt Nam đạt 10.6 tỉ đô la. Tương tự, các công ty Mỹ tiếp tục đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Trong năm 2006, khu vực tư nhân của Mỹ cam kết 444 triệu đô la đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Một bằng chứng nữa cho thấy quan hệ song phương đang mở rộng là việc ký kết Hiệp định Vận tải Hàng không Song phương hồi tháng 12/2003. Một số hãng chuyên chở của Mỹ đã có các hiệp định chia sẻ mã của bên thứ ba với Hãng hàng không Việt Nam. Từ tháng 12/2004 các chuyến bay thẳng giữa Thành phố Hồ Chí Minh và San Fransico bắt đầu được khai thác. Tháng 3/2007, Việt Nam và Hoa Kỳ cũng đã ký Hiệp định Hàng hải Song phương, mở ra dịch vụ vận tải đường biển và công nghiệp dịch vụ của Việt Nam phục vụ các công ty Mỹ.
Hợp tác trong các lĩnh vực khác như quốc phòng, không phổ biến vũ khí, và thực thi luật cũng đang được mở rộng nhanh chóng. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thông báo trong chuyến thăm Hoa Kỳ tháng 6/2008 về việc Việc Nam tham gia huấn luyện lực lượng gìn giữ hoà bình theo Sáng kiến Chiến dịch Hoà bình Toàn cầu đa phương do Hoa Kỳ tài trợ. Tháng 6/2008, Việt Nam đã đón tàu y tế USNS Mercy ghé thăm Nha Trang, điều trị y tế và khám chữa răng cho hơn 11.000 bệnh nhân Việt Nam. Đây là sự kiện tiếp theo việc Việt Nam đón tiếp 5 tàu hải quân Mỹ trong năm 2007, trong đó có chuyến ghé thăm cảng Đà Nẵng của tàu cứu trợ nhân đạo USS Peleliu. Tàu này thực hiện nhiều dự án kỹ thuật và y tế khác nhau. Cũng trong tháng 6/2008, các quan sát viên Việt Nam tham dự các cuộc tập trận hải quân đa phương Hợp tác và Huấn luyện trên biển (CARAT), do Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tiến hành. Việt Nam đã tham gia hoạt động này trong hai năm liền.