"Từ nay trở đi, tôi được tự do, tôi có thể nói chuyện với bất cứ ai mà tôi muốn, tôi có thể gặp gỡ bất cứ ai mà tôi muốn, tôi có thể bước đi khoan thai trên đường phố. Tôi có thể ôm những người thân của mình. Tôi có thể hôn những đứa con của tôi, và mỉm cười với những người bạn của tôi. Suốt quãng đời còn lại tôi có thể phấn đấu vì dân tộc của tôi, tôi sẽ tự viết nên những trang sử của riêng mình".
--Rebiya Kadeer
Hoa Kỳ cam kết thúc đẩy dân chủ trên toàn châu Á, từ việc kêu gọi tự do ở các quốc gia độc tài, hà khắc cho tới củng cố các nền dân chủ quá độ. Châu Á là nơi có những nền dân chủ đang vận hành, nhưng cũng là nơi có những chế độ độc tài bất công nhất trên thế giới. Các hình thái hệ thống chính trị và những tiến bộ hướng tới sự thay đổi mang tính dân chủ phản ánh sự đa dạng của khu vực này. Trong khi đã có những tiến bộ tích cực về dân chủ ở những nước như Inđônêxia - hiện là nền dân chủ lớn thứ ba trên thế giới - thì tình trạng lạm dụng nhân quyền và thiếu tự do vẫn tiếp diễn ở các nước khác, như Myanma, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Ở một số nước, do pháp quyền yếu kém, tình trạng tham nhũng tràn lan, còn các thể chế dân chủ thì non nớt nên đã hạn chế sự tiến bộ, trong khi đó ở một số nước khác, nhờ có xã hội dân sự mạnh mẽ và nền báo chí tự do nên đã giúp thúc đẩy cải cách.
Ở Myamar, Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ phong trào dân chủ ở nước này bằng việc duy trì lệnh trừng phạt và tiếp tục kêu gọi trả tự do cho Aung San Suu Kyi và các tù nhân chính trị khác, và kêu gọi khởi đầu một tiến trình chính trị đáng tin cậy. Hoa Kỳ tiếp tục hợp tác với các đồng minh và Liên Hợp Quốc nhằm gây áp lực buộc giới quân sự cầm quyền ở nước này phải có những thay đổi mang tính dân chủ và tôn trọng nhân quyền. Phiên thảo luận của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ngày 6 tháng 12 là một thành công thực sự vì đã thu hút được sự quan tâm chú ý đối với những vấn đề cấp bách của Myama, trong đó có "thành tích" tồi tệ về dân chủ và nhân quyền của nước này. Liên Hợp Quốc đã nhận định tình hình ở Myama là cuộc khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục ủng hộ việc giám sát và hành động đối với Myama trong khuôn khổ hệ thống Liên Hợp Quốc.
Trong năm qua, một số nước trong khu vực như Inđônêxia và Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ. Hoa Kỳ ủng hộ việc tăng cường dân chủ ở Inđônêxia, trong đó có cải tổ quân đội, tăng cường trách nhiệm, tôn trọng nhân quyền, nỗ lực chống tham nhũng và pháp quyền. Tiếp theo viện trợ sau trận sóng thần năm 2004, Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ đáng kể thông qua đóng góp vào tiến trình hòa bình ở Aceh, cụ thể là việc tái hòa nhập những chiến binh của Phong trào Tự do Aceh. Tháng 5/2005, Việt Nam và Hoa Kỳ đã thông báo việc ký kết thỏa thuận có tính ràng buộc đầu tiên về tự do tôn giáo, theo đó sẽ đảm bảo quy trình minh bạch cho các nhóm tôn giáo đăng ký hoạt động. Những bước tiến tích cực mới đây của Chính phủ Việt Nam đã giúp nối lại đối thoại về nhân quyền vào tháng 2/2006, sau khi bị gián đoạn từ năm 2002.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng vẫn lo ngại về tình trạng thiếu tiến bộ ở các nước khác, trong đó có Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Hoa Kỳ đã áp dụng nhiều chiến lược để thúc đẩy dân chủ, nhân quyền và pháp quyền ở Trung Quốc, cụ thể là nêu những lo ngại về dân chủ và nhân quyền trong các cuộc gặp song phương, tập trung sự quan tâm quốc tế về Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc và các diễn đàn đa phương khác, tham khảo các đối tác đối thoại về nhân quyền khác của Trung Quốc thông qua Tiến trình Bern, và thực hiện một chương trình cung cấp các khoản trợ giúp nhằm khuyến khích xã hội dân sự, pháp quyền và sự tham gia của quần chúng ở Trung Quốc. Việc chế độ Bắc Triều Tiên nắm quyền kiểm soát gần như hoàn toàn sẽ vẫn tiếp tục là một mối quan ngại sâu sắc. Việc chỉ định một Đặc phái viên về Nhân quyền ở Bắc Triều Tiên, như Đạo luật về Nhân quyền ở Bắc Triều Tiên năm 2004 yêu cầu là tín hiệu quan trọng của Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy dân chủ và nhân quyền tại một trong những quốc gia hà khắc và cô lập nhất trên thế giới.
Hoa Kỳ dốc sức thực hiện Chương trình Nghị sự vì Tự do ở châu Á của Tổng thống. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục sử dụng ngoại giao song phương, hợp tác đa phương, các cơ chế của Liên Hợp Quốc và hỗ trợ các dự án về dân chủ và nhân quyền nhằm thúc đẩy tự do ở châu Á.
Việt Nam
Việt Nam là nhà nước độc tài, do Đảng Cộng sản nắm quyền. Báo cáo nhân quyền của Chính phủ vẫn chưa được cải thiện mấy và tình trạng lạm dụng vẫn tiếp diễn; tuy nhiên trong năm qua, nhiều tù nhân chính trị và tôn giáo đáng quan tâm đã được trả tự do và chính phủ tiếp tục thúc đẩy cải cách kinh tế và các cải cách khác. Năm 2005, Chính phủ hạn chế đáng kể quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và lập hội. Việt Nam kiểm duyệt các phương tiện truyền thông trong nước, chặn sóng các đài phát thanh nước ngoài và một số trang web, không cho công dân được hưởng quyền thành lập các tổ chức độc lập. Chính phủ cũng buộc các cộng đồng tôn giáo phải tuân thủ những yêu cầu khắt khe khi đăng ký hoạt động và cản trở hoạt động của một số nhóm tôn giáo "không được công nhận".
Hoa Kỳ đã thúc đẩy sự phát triển dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam thông qua việc khuyến khích Chính phủ Việt Nam mở rộng quan hệ kinh tế và chính trị với cộng đồng quốc tế và thực hiện việc cải cách kinh tế và chính trị cần thiết giúp cho việc phát triển dân chủ và nhân quyền trở thành hiện thực. Các quan chức Hoa Kỳ duy trì liên lạc chặt chẽ với các nhà hoạt động chính trị và các nhóm tôn giáo Việt Nam để xác định và điều tra các vụ lạm dụng nhân quyền trên cả nước, đồng thời ủng hộ nhân quyền, cải cách chính trị và pháp lý trong các cuộc gặp song phương tại tất cả các cấp độ. Hoa Kỳ nhất trí tái khởi động đối thoại về nhân quyền với Việt Nam vào đầu năm 2006.
Hoa Kỳ khuyến khích nhận thức về các nguyên tắc dân chủ trong tầng lớp nhân dân ở Việt Nam thông qua ủng hộ quyền công dân được bày tỏ quan điểm một cách hòa bình. Trong năm qua, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành ba đợt ân xá, một số tù nhân đáng quan tâm đã được trả tự do, trong đó có Bác sĩ Nguyễn Đan Quế và Cha Nguyễn Văn Lý. Những người này và một số người khác được thả từng là mục tiêu trong nỗ lực ủng hộ lâu dài và ở cấp cao của Chính phủ Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, các quan chức sứ quán còn tạo điều kiện đưa một nhà hoạt động Việt Nam vốn bị đau yếu sang Hoa Kỳ chữa trị và đã thuyết phục được Chính phủ Việt Nam cho phép ông trở về nước, cho dù trong thời gian ở nước ngoài ông công khai kêu gọi thay đổi dân chủ ở Việt Nam. Hoa Kỳ cũng khuyến khích Chính phủ Việt Nam cho phép những người ủng hộ dân chủ mới được thả, được tự do đi lại hơn nữa và bảo vệ những cá nhân này trước tình trạng bạo lực và phân biệt đối xử.
Hoa Kỳ ủng hộ tự do truyền thông và tự do ngôn luận thông qua việc tiếp cận với các nhà báo Việt Nam. Mười nhà báo Việt Nam đã tham gia vào chương trình Khách mời Quốc tế dành cho giới Lãnh đạo do Hoa Kỳ tài trợ với chủ đề "Truyền thông ở Hoa Kỳ". Bên cạnh đó, Đại sứ và các quan chức khác cũng tham gia vào các buổi trao đổi trực tuyến được theo dõi rộng rãi, trong đó đề cập các vấn đề liên quan tới nhân quyền và tự do tôn giáo. Hơn thế nữa, các quan chức Hoa Kỳ còn duy trì liên hệ chặt chẽ với các quan chức Chính phủ Việt Nam và Đảng Cộng sản trong các kỳ họp của Quốc hội nhằm kêu gọi nhấn mạnh hơn nữa tới quyền tự do ngôn luận trong luật pháp Việt Nam và trong hoạt động của Quốc hội.
Hoa Kỳ cũng gián tiếp hỗ trợ sự phát triển quyền tự do hội họp và lập hội ở Việt Nam thông qua các chương trình xây dựng năng lực cho các thể chế của một xã hội dân sự, kể cả các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong một số lĩnh vực phát triển. Năm 2005, Hoa Kỳ cung cấp tài trợ chống nạn buôn người và tài trợ thúc đẩy giáo dục, kể cả một khoản hỗ trợ dành cho Hội Phụ nữ tỉnh Thanh Hóa nhằm thực hiện một dự án ngăn chặn tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em ở tỉnh miền trung Việt Nam này.
Hoa Kỳ thúc đẩy việc xây dựng một hệ thống pháp lý minh bạch và có trách nhiệm ở Việt Nam thông qua các chương trình xây dựng pháp quyền liên quan tới phát triển kinh tế và cải tổ hệ thống tư pháp. Hoa Kỳ tiếp tục tài trợ cho một chương trình bốn năm nhằm giúp chính phủ xây dựng và pháp điển hóa một khuôn khổ pháp lý và điều tiết minh bạch hơn và mạnh hơn, một phần trong việc thực hiện Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam-Hoa Kỳ. Trong số những hoạt động của chương trình này có 50 hội thảo về đào tạo và chính sách, với sự tham gia của 5.000 người và 7 chuyến tham quan nghiên cứu dành cho 48 cán bộ tư pháp và lập pháp cao cấp, và sự tham gia thiết yếu vào quá trình xây dựng những bộ luật chủ chốt nhằm đưa Việt Nam tới gần hơn một nền kinh tế thị trường có khu vực tư nhân. Chuyến tham quan nghiên cứu theo chương trình Khách mời Quốc tế dành cho 9 quan chức cao cấp của Quốc hội Việt Nam nhằm nghiên cứu tiến trình làm luật ở Hoa Kỳ là một cơ hội có một không hai để họ gặp gỡ với các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, đồng thời tìm hiểu sự phức tạp của tiến trình làm luật tại cấp địa phương, bang và liên bang. Hoa Kỳ cũng đã mời một học giả về nhân quyền trong một chương trình Khách mời Quốc tế mang tên "Chính sách đối ngoại Mỹ và các vấn đề nhân quyền" và mời bốn diễn giả người Mỹ nói về các vấn đề cải cách pháp lý và tư pháp. Các diễn giả này đã nói chuyện với các luật sư, các thẩm phán và sinh viên luật tại nhiều nơi nhằm thúc đẩy và mở rộng hiểu biết về hệ thống pháp lý Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ giúp đấu tranh chống tình trạng vi phạm quyền của phụ nữ, người thiểu số và những người tàn tật chủ yếu thông qua chủ trương áp dụng nhất quán các bộ luật hiện có của Chính phủ về bảo vệ các quyền của cá nhân. Trong các cuộc gặp song phương với các quan chức địa phương, các tỉnh và ở trung ương, các quan chức Hoa Kỳ và hầu hết các khách mời cao cấp của Hoa Kỳ tới Việt Nam đều nêu "thành tích" nghèo nàn của chính quyền trong việc thi hành luật và thực hiện chính sách ở cấp địa phương.
Hoa Kỳ thúc đẩy tự do tôn giáo ở Việt Nam bằng việc duy trì tiếp xúc chặt chẽ với các nhóm tôn giáo địa phương nhằm xác định và nêu bật những vụ lạm dụng và khuyến khích nỗ lực cải cách. Trao đổi thư với Hoa Kỳ tháng 5/2005, Việt Nam cam kết giải quyết một số quan ngại quan trọng về tự do tôn giáo. Đại sứ Lưu động phụ trách vấn đề Tự do Tôn giáo Quốc tế và Đại sứ quán Hoa Kỳ đã tiến hành thảo luận với Chính phủ Việt Nam nhằm kêu gọi tiến bộ trong vấn đề tự do tôn giáo. Tháng 11, Ngoại trưởng đã tái liệt kê Việt Nam là "nước cần quan tâm đặc biệt" vì tiếp tục vi phạm quyền tự do tôn giáo nhưng đã có những tiến bộ đáng kể trong vấn đề này.
Hoa Kỳ tiếp tục nỗ lực thu thập tài liệu về những vi phạm đối với quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam và bày tỏ quan ngại tại tất cả các cấp độ trong các cuộc tiếp xúc với Chính phủ. Các nhóm Tin lành thiểu số ở Tây Nguyên và Tây Bắc phải chịu những hạn chế lớn về quyền tự do hành đạo; tuy nhiên nỗ lực ngoại giao của Hoa Kỳ đã buộc Chính phủ Việt Nam phải cho mở những nhà thờ mới tại Tây Nguyên và mở rộng hoạt động của các "nhà thờ tại gia" không được công nhận tại một số vùng. Số lượng các nhà thờ Tin lành được chính thức công nhận ở Tây Nguyên tiếp tục gia tăng trong năm qua, mặc dù con số tổng thể vẫn cực kỳ thấp.
Bằng việc tiếp tục nêu các tiêu chuẩn lao động quốc tế và thông qua các chương trình có chọn lọc giúp đỡ các nạn nhân buôn người và bị phân biệt đối xử, Hoa Kỳ giúp đấu tranh chống nạn buôn người, ủng hộ những nỗ lực chống nạn lao động trẻ em, giúp người tàn tật có công ăn việc làm, và cải thiện quan hệ giữa người lao động và giới quản lý.
Hoa Kỳ kêu gọi Chính phủ phê chuẩn những công ước bổ sung của Tổ chức Lao động Quốc tế giải quyết vấn đề quyền của người lao động và công nhận những quyền cơ bản của người lao động. Hoa Kỳ cũng tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết phải thảo luận những vấn đề xung quanh quyền tự do lập hội và đàm phán tập thể. Hoa Kỳ đã tài trợ một số chương trình giải quyết vấn đề bảo vệ quyền của người lao động. Hoa Kỳ hợp tác với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện một số chương trình kéo dài nhiều năm nhằm thúc đẩy các quyền lao động. Trong số này có một dự án xây dựng năng lực của Chính phủ chống nạn lao động trẻ em và một chương trình ngăn chặn và giải quyết tranh chấp tại 70 doanh nghiệp đóng trên địa bàn bảy tỉnh. Một chương trình khác do Hoa Kỳ tài trợ hợp tác với Chính phủ soạn thảo một bộ luật mới về bảo hiểm xã hội mà Chính phủ dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua năm 2006. Cuối cùng là Kế hoạch Cứu trợ Khẩn cấp AIDS của Tổng thống. Kế hoạch này cung cấp thêm tài trợ cho một dự án đang thực hiện nhằm giải quyết vấn đề HIV/AIDS tại nơi làm việc, vận hành ở cấp quốc gia và doanh nghiệp nhằm xây dựng các chính sách bảo vệ quyền của người lao động, những người đã hoặc đang phải chịu ảnh hưởng của HIV/AIDS.
Để chống nạn buôn người, Hoa Kỳ tài trợ cho các tổ chức phi chính phủ quốc tế đang điều hành hai trung tâm tạm trú dành cho các nạn nhân buôn người được hồi hương từ Cămpuchia và Trung Quốc, và những người có nguy cơ trở thành nạn nhân của nạn buôn người. Các chương trình khác hỗ trợ những nạn nhân của nạn buôn người trở về và bảo vệ phụ nữ và trẻ em ở những vùng có nguy cơ cao thông qua nâng cao nhận thức, đào tạo phổ thông, và đem đến cơ hội kinh tế từ các chương trình cho vay tín dụng nhỏ. Các quan chức Hoa Kỳ ở tất cả các cấp tiếp tục nêu vấn đề buôn người với những đối tác Việt Nam. Các quan chức Hoa Kỳ cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc điều phối và tập trung nỗ lực cộng đồng quốc tế đối phó với nạn buôn người ở Việt Nam.