Dấu hiệu chung của các vụ buôn người là sử dụng vũ lực, lừa gạt, hoặc cưỡng ép để bóc lột một người nhằm kiếm lợi. Nạn nhân có thể bị bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc cả hai. Cụ thể, bóc lột tình dục là lạm dụng trong hoạt động mại dâm để kiếm lời. Trong các trường hợp khác, nạn nhân bị bóc lột ở nhà riêng bởi những người thường coi quan hệ tình dục cũng là công việc. Dùng vũ lực hoặc cưỡng ép có thể là trực tiếp và mang tính bạo lực hoặc đánh vào tâm lý.
Có rất nhiều con số ước tính về phạm vi và bản chất của hình thức nô lệ thời hiện đại. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) - cơ quan của Liên Hợp Quốc có trách nhiệm đánh giá các tiêu chuẩn lao động, việc làm và các vấn đề bảo vệ xã hội - ước tính có 12,3 triệu người bị cưỡng ép lao động, làm công trừ nợ, trẻ em bị cưõng ép lao động, và làm nô lệ tình dục tại bất cứ thời điểm nào. Những nguồn khác ước tính con số từ 4 đến 27 triệu.
Theo một nghiên cứu do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, hoàn thiện năm 2006, có khoảng 800.000 người bị buôn bán qua biên giới quốc gia, đó là chưa kể tới hàng triệu người bị buôn bán trong phạm vi các nước. Khoảng 80% số nạn nhân xuyên quốc gia là phụ nữ và trẻ em gái và có tới 50% là vị thành niên. Đa số nạn nhân xuyên quốc gia là nữ bị bán nhằm bóc lột tình dục để kiếm lời. Những con số này chưa bao gồm hàng triệu nạn nhân là phụ nữ và nam giới trên toàn thế giới bị buôn bán trong phạm vi biên giới các quốc gia - đa số bị cưỡng ép lao động hoặc làm công để trả nợ.
Những kẻ buôn người tấn công đối tượng dễ bị tổn thương. Mục tiêu của chúng thường là trẻ em và phụ nữ trẻ. Thủ đoạn của chúng rất tinh vi và tàn nhẫn. Chúng lừa gạt, ép buộc và tạo lòng tin với những người có khả năng trở thành nạn nhân. Mẹo của chúng thường là hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp hơn qua kết hôn, việc làm, hoặc cơ hội học hành.
Quốc tịch của nạn nhân buôn người rất đa dạng. Một số người rời quê hương từ những nước đang phát triển đến những nước giàu có hơn để tìm cách cải thiện cuộc sống với những công việc tay nghề thấp. Những người khác trở thành nạn nhân bị cưỡng ép lao động hoặc làm công để trả nợ ở ngay chính quê hương của họ. Những phụ nữ khao khát có một tương lai tốt đẹp hơn rất dễ tin vào những lời hứa hẹn tìm việc làm ở nước ngoài như trông trẻ, giúp việc gia đình, phục vụ bàn, hoặc làm người mẫu - mà thực chất sau này là hành nghề mại dâm - một cơn ác mộng không có lối thoát mà những kẻ buôn người tạo ra. Một số gia đình giao trẻ em cho những người lớn, thường là họ hàng. Những người này hứa sẽ cho chúng ăn học và những cơ hội khác, nhưng rồi lại đẩy chúng vào cảnh bị bóc lột.
Tiêu điểm của Báo cáo về tình hình buôn người năm 2007
Báo cáo về tình hình buôn người là bản báo cáo toàn cầu đầy đủ nhất về nỗ lực đấu tranh chống những hình thức buôn người nghiêm trọng của các chính phủ. Giai đoạn thực hiện báo cáo này là từ tháng 4/2006 đến tháng 3/2007. Báo cáo bao gồm những quốc gia được xác định là xuất phát điểm, trung chuyển, hoặc là điểm đến của số lượng lớn nạn nhân của những hình thức buôn người nghiêm trọng. Báo cáo về tình hình buôn người 2007 thể hiện cái nhìn toàn cầu và cập nhật về phạm vi và bản chất của hình thức nô lệ thời hiện đại cùng với hành động của các chính phủ trên thế giới đấu tranh và xóa bỏ nó.
Buôn người chắc chắn xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giới. Nếu Báo cáo này bỏ sót một quốc gia nào thì điều đó chỉ có thể là do chưa có đủ thông tin. Báo cáo tình hình từng nước mô tả phạm vi và bản chất của vấn đề buôn người, lý do đưa quốc gia đó vào Báo cáo và nỗ lực của chính phủ nước đó trong cuộc chiến chống buôn người. Báo cáo tình hình từng nước cũng đánh giá liệu quốc gia đó có tuân thủ tiêu chuẩn tối thiểu về xóa bỏ nạn buôn người như quy định trong Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người hay không, đồng thời còn khuyến nghị bổ sung hành động chống buôn người. Phần còn lại của báo cáo tình hình từng nước mô tả nỗ lực của chính phủ nhằm thực thi luật pháp chống buôn người, bảo vệ nạn nhân và ngăn chặn buôn người. Báo cáo tình hình từng nước giải thích cơ sở xếp các quốc gia vào Loại 1, Loại 2, Loại 2 cần theo dõi hay Loại 3. Nếu một quốc gia bị xếp vào Loại 2 cần theo dõi thì trong báo cáo tình hình quốc gia đó có thêm phần giải thích lý do, áp dụng các điều khoản trong Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người.
Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người quy định ba nhân tố cần xem xét khi quyết định xếp một nước vào Loại 2 (hoặc Loại 2 cần theo dõi) hoặc Loại 3: 1) Mức độ quốc gia đó là nước xuất phát, trung chuyển, hoặc điểm đến của các hình thức buôn người nghiêm trọng; 2) Mức độ chính phủ nước đó không tuân thủ những tiêu chuẩn tối thiểu của Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người và cụ thể là mức độ tham nhũng có liên quan đến buôn người của chính phủ đó; và 3) Những nguồn lực và khả năng chính phủ giải quyết và xóa bỏ các hình thức buôn người nghiêm trọng.
Một số quốc gia tổ chức hội thảo và thành lập các đội đặc nhiệm hoặc xây dựng các kế hoạch hành động quốc gia nhằm xác định mục tiêu cho nỗ lực chống buôn người. Tuy nhiên, việc tổ chức hội thảo, lập kế hoạch, hay xây dựng các lực lượng đặc nhiệm không được chú trọng nhiều lắm khi đánh giá nỗ lực của các nước. Thay vào đó, Báo cáo tập trung vào những hành động chống buôn người cụ thể của các chính phủ, đặc biệt là truy tố, kết án và phạt tù những kẻ buôn người, các biện pháp bảo vệ nạn nhân và nỗ lực ngăn chặn tệ nạn này. Báo cáo cũng không chú trọng đến các bộ luật đang được soạn thảo hoặc chưa được ban hành. Cuối cùng, Báo cáo không tập trung vào nỗ lực của các chính phủ đóng góp gián tiếp vào việc giảm nạn buôn người, chẳng hạn như các chương trình giáo dục, hỗ trợ phát triển kinh tế hay các chương trình nhằm tăng cường bình đẳng giới, mặc dù đây đều là những nỗ lực có ý nghĩa.
Ru-an-đa/Vương quốc Anh: Buôn người vì mục đích tình dục. Khi 14 tuổi, ông chủ của Adnita - một thương nhân mà cô giúp việc ở chợ Kigali – nói cô hãy đi với hai người đàn ông, họ sẽ đưa cô ra nước ngoài sinh sống, ở đó cô có thể an toàn và được đi học. Khi tới Vương quốc Anh, một người đàn ông đón cô ở sân bay và đưa về một ngôi nhà. Một người đàn ông khác tới và đã cưỡng hiếp cô. Trong suốt hai năm, cô gái phải sống trong bếp bị khóa và chỉ có lối đi tới nhà vệ sinh và nhà tắm. Người đàn ông đã nhốt cô làm nô lệ tình dục cho đến khi cô chốn thoát được và đi nhờ một người lái xe, người đó đã đưa cô tới trình diện cảnh sát.
Phương pháp
Khi soạn thảo Báo cáo này, Bộ Ngoại giao sử dụng thông tin từ các Đại sứ quán Hoa Kỳ, các quan chức chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ, các báo cáo đã được công bố, các chuyến đi điều tra tới các khu vực và thông tin gửi tới địa chỉ email (tipreport@state.gov). Địa chỉ này được lập để các tổ chức phi chính phủ và các cá nhân chia sẻ thông tin về tiến bộ của chính phủ các nước trong việc giải quyết nạn buôn người. Các cán bộ ngoại giao của Hoa Kỳ báo cáo về tình hình buôn người và hành động của chính phủ dựa trên điều tra kỹ lưỡng, kể cả việc gặp gỡ với nhiều quan chức chính phủ, đại diện các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, nhân viên các tổ chức quốc tế, các phóng viên, giới học giả và những nạn nhân còn sống sót.
Để hoàn thành Báo cáo năm nay, Bộ Ngoại giao đã có cái nhìn mới về các nguồn thông tin về từng nước để đưa ra đánh giá. Đánh giá nỗ lực chống buôn người của từng chính phủ là một quá trình gồm hai bước:
Bước một: Căn cứ vào số lượng nạn nhân
Trước hết, Bộ Ngoại giao xác định xem đó là “nước xuất phát điểm, trung chuyển hay điểm đến của một số lượng lớn các nạn nhân của những hình thức buôn người nghiêm trọng”, thông thường là theo bậc 100 nạn nhân hoặc nhiều hơn, bằng con số áp dụng trong các báo cáo trước. Một số quốc gia không có những thông tin này thì không bị xếp loại nhưng được đưa vào mục Các trường hợp đặc biệt vì có dấu hiệu buôn người rõ ràng.
Bước hai: Xếp loại
Theo quy định của Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người, trong Báo cáo về tình hình buôn người năm 2007 Bộ Ngoại giao xếp các quốc gia vào một trong ba danh sách, gọi là Loại. Việc xếp loại dựa trên mức độ hành động chống buôn người của một chính phủ, chứ không phải mức độ của vấn đề, mặc dù tiêu chí này cũng quan trọng. Trước tiên, Bộ Ngoại giao đánh giá liệu chính phủ đó có tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu của Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người về việc xóa bỏ nạn buôn người hay không (chi tiết xem trang 228-229). Những chính phủ nào tuân thủ những tiêu chuẩn này sẽ được xếp Loại 1. Với các chính phủ khác, Bộ Ngoại giao cân nhắc xem họ có nỗ lực đáng kể nào để tuân thủ những tiêu chuẩn này hay chưa. Những chính phủ có nỗ lực đáng kể tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu sẽ được xếp Loại 2. Những chính phủ nào không tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu và không có nỗ lực đáng kể nào nhằm tuân thủ những tiêu chuẩn đó sẽ bị xếp Loại 3. Cuối cùng, tiêu chuẩn liệt vào Danh sách cần theo dõi đặc biệt được xem xét và nếu có thể áp dụng thì các quốc gia Loại 2 sẽ được xếp vào Loại 2 cần theo dõi.
Danh sách cần theo dõi đặc biệt-Loại 2 cần theo dõi
Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người tạo ra một “danh sách cần theo dõi đặc biệt” đối với các nước cần phải được theo dõi đặc biệt trong bản Báo cáo về tình hình buôn người. Danh sách này gồm có: 1) Các quốc gia trong danh sách Loại 1 năm nay vốn nằm trong danh sách Loại 2 năm 2006; 2) Các quốc gia trong danh sách Loại 2 năm nay vốn nằm trong danh sách Loại 3 năm 2006; 3) Danh sách các quốc gia Loại 2 trong Báo cáo năm nay khi:
a) Số nạn nhân thực tế của các hình thức buôn người nghiêm trọng là rất lớn hoặc đang gia tăng đáng kể;
b) Không có bằng chứng cho thấy sự gia tăng nỗ lực chống các hình thức buôn người nghiêm trọng so với năm ngoái, cụ thể là gia tăng nỗ lực điều tra, truy tố và kết án tội buôn người, tăng cường trợ giúp nạn nhân và giảm bằng chứng cho thấy có sự đồng lõa của các quan chức chính phủ trong các hình thức buôn người nghiêm trọng; hoặc
c) Quyết định một quốc gia đang có những nỗ lực đáng kể để tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu dựa trên cam kết của quốc gia đó tiến hành nhiều bước đi hơn nữa trong năm tới.
Nhóm thứ ba này (gồm cả a, b, và c) được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xếp thành “Loại 2 cần theo dõi”. Đã có 32 quốc gia được xếp vào danh sách Loại 2 cần theo dõi trong Báo cáo tháng 6/2006. Cùng với hai quốc gia được đánh giá lại và xếp vào Loại 2 cần theo dõi trong tháng 9/2006 và năm quốc gia đáp ứng được hai tiêu chuẩn đầu tiên nêu trên (được nâng bậc trong Báo cáo về tình hình buôn người 2006 so với Báo cáo năm 2005), 39 quốc gia này đã được đưa vào “Đánh giá Sơ bộ” do Bộ Ngoại giao đưa ra ngày 1/2/2007.
Trong số 34 quốc gia Loại 2 cần theo dõi tại thời điểm công bố Đánh giá Sơ bộ, trong Báo cáo này 10 quốc gia đã lên Loại 2, trong khi đó 7 quốc gia rớt xuống loại 3 và 17 quốc gia vẫn nằm trong danh sách Loại 2 cần theo dõi. Các nước bị xếp vào danh sách cần theo dõi đặc biệt trong báo cáo này sẽ được xem xét lại trong đánh giá sơ bộ đệ trình lên Quốc hội Mỹ ngày 1/2/2008.
Hình thức trừng phạt có thể áp dụng với các Quốc gia xếp Loại 3
Chính phủ các quốc gia bị xếp Loại 3 có thể bị trừng phạt. Chính phủ Hoa Kỳ có thể không cấp các khoản hỗ trợ không liên quan tới thương mại và không vì mục đích nhân đạo. Những nước không nhận được những khoản hỗ trợ này sẽ không được tài trợ để tham gia các chương trình trao đổi văn hóa và giáo dục. Cũng theo Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người, những chính phủ này cũng có thể bị Hoa Kỳ phản đối trợ giúp (trừ trợ giúp nhân đạo, liên quan đến thương mại và các khoản trợ giúp nhất định liên quan đến phát triển) từ các định chế tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới. Nếu được áp dụng, các biện pháp trừng phạt này sẽ có hiệu lực từ ngày 1/10/2007.
Tất cả hay một phần lệnh trừng phạt theo quy định của Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người có thể được Tổng thống quyết định miễn áp dụng nếu việc hỗ trợ cho quốc gia này có thể giúp thúc đẩy mục đích của Đạo luật hoặc phù hợp với lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ. Đạo luật về Bảo vệ nạn nhân buôn người cũng quy định rằng lệnh trừng phạt sẽ được miễn áp dụng nếu cần phải tránh những tác động tiêu cực lớn xảy ra với những người dễ bị tổn thương, trong đó có phụ nữ và trẻ em. Lệnh trừng phạt sẽ không được áp dụng nếu Tổng thống thấy rằng, sau khi bản Báo cáo này được công bố và trước khi áp đặt lệnh trừng phạt, chính phủ đó đã tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiếu hoặc đã có những nỗ lực đáng kể để tuân thủ các tiêu chuẩn đó.
Bất kể bị xếp loại nào, mỗi quốc gia đều có thể làm nhiều hơn, kể cả Hoa Kỳ. Việc xếp loại các quốc gia không phải là vĩnh viễn. Tất cả các quốc gia đều phải duy trì và gia tăng nỗ lực để chống buôn người.
Báo cáo này được sử dụng như thế nào
Báo cáo này là công cụ ngoại giao để Chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục đối thoại, khích lệ, đồng thời là định hướng giúp tập trung nguồn lực vào việc truy tố, bảo vệ, và xây dựng các chương trình và chính sách ngăn chặn. Bộ Ngoại giao sẽ tiếp tục tăng cường sự tham gia của các chính phủ để hoàn chỉnh nội dung Báo cáo nhằm tăng cường nỗ lực hợp tác để xóa bỏ tận gốc nạn buôn người. Trong năm tới, và đặc biệt là những tháng trước khi quyết định trừng phạt các nước bị xếp vào Loại 3 được đưa ra, Bộ Ngoại giao sẽ sử dụng thông tin thu thập được trong báo cáo này để tập trung hiệu quả hơn vào các chương trình trợ giúp và hợp tác với các quốc gia cần hỗ trợ trong cuộc chiến chống buôn người. Bộ hy vọng bản Báo cáo này sẽ là chất xúc tác cho nỗ lực chính phủ và phi chính phủ nhằm chống nạn buôn người trên toàn thế giới.
Bắc Triều Tiên/Trung Quốc: Hanuel bị cưỡng bức hôn nhân đã nói: "Tôi đã bị người ta bán để làm vợ một người đàn ông Trung Quốc 47 tuổi, không nghề nghiệp và rất ốm yếu. Chồng tôi đánh tôi và nói ‘Mày có biết tao đã mua mày bao nhiêu tiền không?’ Tôi không phải là người phụ nữ Bắc Triều Tiên duy nhất trong vùng này. Khi tôi nói chuyện với một số người khác, chúng tôi đã nhận ra rằng mình đã bị bán cho các cuộc hôn nhân như vậy".
Nigeria/Hoa Kỳ: Cô bé Jenny 14 tuổi đã rời quê hương ở Nigeria sang Hoa Kỳ làm ô-sin cho một cặp vợ chồng, cũng là người gốc Phi. Cô bé nghĩ rằng cô sẽ được trả lương cho việc chăm sóc con cái của họ, nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Suốt năm năm liền, Jenny đã bị ông chủ liên tục hãm hiếp, còn vợ hắn thì hành hạ, đôi khi dùng cả gậy, và có lúc còn dùng cả guốc cao gót để đánh đập em. Được một tổ chức phi chính phủ báo tin, lực lượng thực thi pháp luật đã giải thoát cho Jenny và truy tố những kẻ đã gây ra tội ác.
Định nghĩa “Buôn người”
Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân trong các vụ buôn người định nghĩa “các hình thức buôn người nghiêm trọng” là:
(a) buôn người vì mục đích tình dục, trong đó hoạt động tình dục nhằm mục đích thương mại là kết quả của việc dùng vũ lực, lừa gạt hoặc cưỡng ép hay trong trường hợp người bị ép buộc thực hiện hành vi đó chưa đủ 18 tuổi; hoặc
(b) việc tuyển dụng, chứa chấp, vận chuyển, cung cấp hay quản chế một người bắt phải lao động hay phục vụ thông qua thủ đoạn sử dụng vũ lực, lừa gạt hay cưỡng ép nhằm mục đích bắt họ phải làm nô lệ miễn cưỡng, làm người giúp việc nhà, làm việc để trừ nợ hay làm nô lệ.
Định nghĩa các thuật ngữ
Buôn người nhằm mục đích tình dục tức là tuyển dụng, chứa chấp, vận chuyển, cung cấp hoặc quản chế một người để nhằm mục đích thực hiện hoạt động tình dục thương mại.
Hoạt động tình dục nhằm mục đích thương mại nghĩa là bất cứ một hoạt động tình dục nào mà giá trị thu được từ hoạt động đó được trao cho hoặc được bất kỳ ai tiếp nhận.
Cưỡng ép nghĩa là (a) đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng hoặc quản chế về thân thể đối với một người; (b) bất cứ kế hoạch hay hình thức nào khiến cho một người tin rằng nếu họ không thực hiện một hành vi nhất định thì họ sẽ bị tổn hại nghiêm trọng hoặc bị giam cầm; hoặc (c) lạm dụng hoặc bị đe dọa lạm dụng thủ tục pháp lý.
Nô lệ miễn cưỡng là tình trạng nô lệ gây ra do (a) thực hiện bất cứ kế hoạch hay hình thức nào nhằm làm cho một người tin rằng nếu họ không chịu hoặc không tiếp tục chịu hoàn cảnh đó thì, họ hoặc người khác sẽ phải chịu tổn hại nghiêm trọng hoặc bị giam cầm; hoặc (b) lạm dụng hoặc bị đe dọa lạm dụng thủ tục pháp lý.
TÌNH HÌNH CÁC NƯỚC
VIỆT NAM xếp (Loại 2)
Việt Nam là nguồn cung cấp và cũng là điểm đến của đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị buôn bán để nhằm mục đích cưỡng ép lao động hoặc bóc lột tình dục. Phụ nữ và các bé gái Việt Nam bị buôn bán sang Cam-pu-chia, Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Ma Cao, Malaysia, Đài Loan, Anh Quốc và Cộng hòa Séc để bóc lột tình dục nhằm mục đích thương mại. Những kẻ buôn người thường cải trang nạn nhân là khách du lịch hoặc công nhân dưới vỏ bọc là chương trình xuất khẩu lao động, sau đó đưa họ tới Hồng Kông, Đài Loan, hoặc Malaysia, hoặc tuyển các bé gái thông qua các trung tâm dịch vụ việc làm rồi bán cho các băng nhóm tại Trung Quốc và Malaysia, hoặc sử dụng các phòng chát trên mạng Internet để dụ dỗ các nạn nhân tương lai.
Tiếp tục có các báo cáo đáng tin cậy cho biết các cô gái Việt Nam kết hôn thông qua các tay mối lái quốc tế đã bị buôn bán hoặc bị lạm dụng. Số lượng các cuộc hôn nhân lừa đảo cho người Đài Loan đã giảm đi, nhờ các quy định nhập cư chặt chẽ hơn của các nhà chức trách Đài Loan, nhưng số lượng các cô dâu lấy chồng Hàn Quốc lại tăng hơn gấp đôi trong năm năm qua. Các cô gái và bé gái Việt Nam đã bị lừa bằng những lời hứa hẹn có công ăn việc làm và bị bán để bóc lột tình dục, lao động cưỡng bức và hôn nhân ép buộc ở Trung Quốc. Có một số trường hợp đã công bố cho thấy trẻ em Việt Nam đã bị buôn bán sang Anh Quốc để buôn bán ma túy. Nhiều báo cáo cho biết phụ nữ và nam giới Việt Nam đã bị bán sang Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, Saudi Arabia và Trung Đông và bị cưỡng bức lao động dưới hình thức giúp việc tại gia, công nhân trong các nhà máy hoặc trong ngành xây dựng. Một số công ty xuất khẩu lao động đã được cấp phép và chưa được cấp phép của Việt Nam cũng góp phần vào nạn buôn người, trong một số trường hợp đã thu của khách hàng tới 7.000 đô-la Mỹ để đi lao động ở nước ngoài, và cho một số nam giới và phụ nữ vay tiền để đẩy họ vào cảnh làm công trả nợ hoặc bị bóc lột lao động. Năm 2006, Chính phủ Việt Nam đã thông qua Luật Xuất khẩu Lao động mới để tăng cường quản lý các công ty xuất khẩu lao động và nâng cao tính minh bạch trong các hợp đồng và phí đi lao động ở nước ngoài. Bộ luật mới sẽ có hiệu lực vào cuối năm 2007. Việt Nam là một quốc gia đến của trẻ em Cam-pu-chia bị buôn bán sang để làm lao động cưỡng bức hoặc bóc lột tình dục ở các trung tâm đô thị. Trong nước cũng có tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em từ khu vực nông thôn ra thành thị và trẻ em đường phố để làm lao động cưỡng bức và bóc lột tình dục.
Chính phủ Việt Nam chưa tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu về xóa bỏ nạn buôn người; tuy nhiên chính phủ đang có những nỗ lực quan trọng để tuân thủ những tiêu chuẩn đó. Trong năm qua, Việt Nam đã có những tiến bộ trong việc đấu tranh chống buôn người nhằm mục đích tình dục thông qua việc tăng cường ngân sách và thực thi Chương trình Hành động Quốc gia 2004-2010, đồng thời đẩy mạnh công tác điều tra, bắt giữ, truy tố và kết án các đối tượng buôn người. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã thiết lập mối quan hệ đối tác chống buôn người quan trọng với Cam-pu-chia và Trung Quốc. Việt Nam cần tăng cường các biện pháp để bảo vệ người lao động nước ngoài không bị bán sang Việt Nam, và bảo vệ những người là nạn nhân của nô lệ cưỡng bức. Việc thông qua Luật Xuất khẩu Lao động mới vào cuối năm 2006 rất khả quan nếu được thực thi một cách đầy đủ. Việt Nam cũng cần gia tăng nỗ lực truy tố và kết án bất kỳ quan chức nào kiếm lời hoặc tham gia buôn người. Chính phủ Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh việc truy tố và kết án khách nước ngoài tham gia du lịch tình dục.
Truy tố
Chính phủ Việt Nam tiếp tục chứng tỏ có những nỗ lực thực thi pháp luật chống buôn người. Việt Nam đã nghiêm cấm tất cả mọi hình thức buôn người vì mục đích tình dục thông qua Pháp lệnh chống mại dâm năm 2003. Điều 119, 120 và 275 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định về tội buôn bán phụ nữ, trẻ em và buôn người nói chung để bóc lột lao động. Các hình thức trừng phạt buôn người để bóc lột tình dục và lao động đã đủ mức độ nghiêm khắc, và các biện pháp trừng phạt tội bóc lột tình dục cũng tương đương với các tội danh nghiêm trọng khác. Việc thiếu đạo luật chuẩn và toàn diện đã cản trở việc trừng phạt hữu hiệu những kẻ phạm tội buôn người. Tòa án Nhân dân Tối cao cho biết trong năm 2006, các tòa án của Việt Nam đã xét xử hơn 700 vụ buôn người khắp cả nước, với tổng số 1.700 nạn nhân, trong đó có hơn 200 trẻ em. Năm ngoái, các tòa án của Việt Nam cũng đã kết án trên 500 cá nhân về các tội danh buôn người, trong đó có nhiều người bị kết án tối đa 20 năm tù. Tòa án Nhân dân Tối cao đã trích dẫn số liệu thống kê cho thấy số vụ buôn người đã tăng 60% so với năm ngoái. Bộ Công an đã đập tan một nhóm buôn người do cặp vợ chồng người Đài Loan cầm đầu chuyên buôn bán phụ nữ Việt Nam sang Đài Loan, Malaysia và Singapore để làm lao động cưỡng bức hoặc môi giới hôn nhân, và đã bắt giữ 73 cá nhân và giúp đỡ 266 nạn nhân.
Tháng 5/2006, Chính phủ đã ký biên bản ghi nhớ về thực thi pháp luật chống buôn người với Trung Quốc, và đã bắt đầu tiến hành tập huấn thực thi pháp luật cho các tỉnh chung biên giới và tổ chức các chiến dịch nâng cao nhận thức. Năm 2005, các nhà chức trách Việt Nam đã bắt giữ cựu ngôi sao nhạc pop người Anh "Gary Glitter" (còn có tên là Paul Francis Gadd) và kết tội người này vào năm 2006 vì tội quan hệ tình dục với hai bé gái vị thành niên ở miền Nam Việt Nam. Ông ta đã bị kết án ba năm tù, nhưng đầu năm 2007 thì được giảm ba tháng. Lúc đầu, Glitter bị kết tội nghiêm trọng hơn, nhưng Chính phủ đã kết án nhẹ hơn sau khi nạn nhân rút lời khai của họ. Chính phủ Việt Nam đã hỗ trợ Chính phủ Mỹ truy tố và kết tội một khách Mỹ tham gia du lịch tình dục. Không có dấu hiệu nào cho thấy các quan chức cao cấp của Chính phủ tham gia buôn người, nhưng có nhiều vụ đã diễn ra, trong đó các quan chức địa phương ở khu vực biên giới và cửa khẩu đã nhận hối lộ để làm ngơ. Tại Huế, lực lượng an ninh của Chính phủ đã đập tan một nhóm tội phạm có liên quan đến một quan chức địa phương buôn bán trẻ em ra Thành phố Hồ Chí Minh để làm gái bán hoa. Tháng 1/2007, công an Thành phố Hồ Chí Minh đã đập tan hai nhóm tội phạm buôn bán phụ nữ Việt Nam sang Malaysia để làm mại dâm cưỡng bức.
Bảo vệ
Năm 2006, Chính phủ Việt Nam đã gia tăng nỗ lực bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân. Các nạn nhân của các vụ buôn người đã được khuyến khích hỗ trợ quá trình điều tra và truy tố, đồng thời khởi kiện những đối tượng buôn người. Chính phủ không có cơ chế chính thức để xác định nạn nhân của buôn người. Tuy nhiên, Hội Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức quốc tế đã tập huấn cho Bộ Tư lệnh Biên phòng và các nhà chức trách địa phương về cách thức xác định, xử lý và đối xử với nạn nhân. Những người trốn thoát khỏi nạn buôn người trở về Việt Nam thì không bị tạm giam, bị bắt hoặc bị tạm giữ để bảo vệ trái với ý muốn của họ. Phụ nữ ngoại tỉnh đến làm mại dâm dễ bị bắt giữ hơn gái mại dâm người địa phương, đồng thời các cơ quan chức năng chưa phối hợp chặt chẽ trong việc sàng lọc phụ nữ bị bắt vì tội mại dâm để xác định xem có phải họ bị buôn bán hay không. Chính phủ đã bắt đầu chi 4,86 triệu đô-la từ ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2005-2010 để cải thiện dịch vụ và cơ sở vật chất cho những phụ nữ và trẻ em đã trở về hoặc có thể bị tổn thương. Trong giai đoạn được đề cập đến trong báo cáo này, chính phủ đã ban hành nhiều quy định và thủ tục mới, chi tiết để hồi hương và tái hòa nhập nạn nhân của buôn người. Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 05/2007 quy định mức trần về việc thu phí môi giới xuất khẩu lao động và nêu rõ các khoản phí này chỉ được tính một lần và phải được nêu trong hợp đồng lao động để bảo vệ người lao động trước tình trạng làm công trả nợ. Chính phủ cũng đã thành lập một quỹ toàn cầu để các đại sứ quán và lãnh sự Việt Nam có thể sử dụng để hỗ trợ việc hồi hương nạn nhân của tình trạng buôn người.
Ngăn chặn
Trong năm 2006, Chính phủ Việt Nam tiếp tục chứng tỏ có những tiến bộ trong việc ngăn chặn nạn buôn người thông qua tuyên truyền rộng rãi. Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên đã triển khai nhiều tài liệu truyền thông chống buôn người, tổ chức các chiến dịch trên đài phát thanh, và các biện pháp can thiệp ở trường học trong những khu vực có nguy cơ cao. Cục Phòng, chống Tệ nạn xã hội thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức các chiến dịch tuyên truyền tập trung vào nạn nhân và các nhóm có thể bị tổn thương. Sổ tay nghiệp vụ cũng đã được soạn thảo cho các thẩm phán và công tố viên. Các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ tiếp tục hợp tác với Chính phủ để đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho nhiều cơ quan chính phủ và thực thi pháp luật, đồng thời tham gia các chiến dịch tuyên truyền. Việt Nam chưa ký Nghị định thư năm 2000 của Liên Hợp Quốc về ngăn ngừa và trừng trị nạn buôn người.