jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Đại sứ quán Hoa Kỳ
 
  Ngài Đại sứ Đại sứ quán Phòng ban trong sứ quán Phòng Quân sự Phòng Thông tin-Văn hóa Phòng Thương vụ Chương trình Phát triển Quốc tế Mỹ Thông cáo báo chí Các hoạt động nổi bật của Sứ quán

Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID)

CHƯƠNG TRÌNH CỦA VĂN PHÒNG USAID TẠI HÀ NỘI
(Cập nhật tháng 4 năm 2006)

1. CƠ SỞ:

Là một nước thu nhập thấp với số dân 83 triệu người, Việt Nam đang nhanh chóng chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường.  Sau 15 năm kinh tế phát triển với tốc độ cao và có sự thay đổi về cơ cấu, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế và xã hội rõ rệt.  Với vai trò tiềm năng của Việt Nam là một thị trường và là đối tác thương mại chủ yếu cho hàng hoá Mỹ cũng như  vị trí chiến lược của mình, một Việt Nam phồn thịnh và phát triển là ưu tiên của Hoa Kỳ.

Các chương trình viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam là nhằm tăng cường mối quan hệ kinh tế, củng cố nhà nước pháp quyền và các tổ chức dân sự, giảm thiểu những vấn đề hiện đang thách thức sự phát triển bền vững như HIV/AIDS, sự suy thoái môi trường và cúm gà.  Trong suốt thập kỷ qua viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam ngày càng tăng phản ánh mối quan hệ sâu sắc và cơ hội thúc đẩy sự quan tâm lẫn nhau của hai nước. Trong những năm đầu thập niên 90, các chương trình được tài trợ khiêm tốn chỉ giới hạn trong những hoạt động như cứu trợ thiên tai, giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh và trẻ mồ côi thông qua các tổ chức phi chính phủ.  Tuy nhiên từ  năm 1995, chương trình của USAID đã được mở rộng tới những cải cách luật pháp, sự quản lý của chính phủ, phát triển kinh tế, HIV/AIDS, bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai. Trong tài khoá 2005, toàn bộ viện trợ của Chính Phủ Hoa Kỳ cho Việt Nam đạt xấp xỉ 65 triệu đô la, trong đó phần lớn là viện trợ của USAID.  Tháng 9 năm 2000, USAID chính thức khai trương Văn phòng tại Hà Nội - một bộ phận của Văn Phòng Khu vực của USAID tại châu Á.  Với vị trí chiến lược của Việt nam, Hoa Kỳ cho rằng một Việt nam vững mạnh là cần thiết để duy trì sự ổn định vùng trong khu vực Đông Nam Á.

2. THÁCH THỨC

Việt Nam đang phải đối mặt với vô số thách thức khi hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và sắp tới gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.  Quá trình cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước chậm chạp làm cản trở quá trình tự do kinh tế và hạn chế sự tăng trưởng bền vững của khu vực tư nhân trong vòng hai năm qua.  Khuôn khổ pháp lý và hệ thống pháp luật kế thừa từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung không phù hợp với nền kinh tế định hướng thị trường mới của Việt Nam.  Do đó Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng một hệ thống luật pháp hoàn toàn mới. Trong bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới/Công ty Tài chính Quốc tế vừa mới công bố Việt Nam là quốc gia cải cách lớn hàng thứ ba trên thế giới.  Mặc dù trong 10 năm qua tỉ lệ nghèo đói đã giảm 33% nhưng nghèo đói và thất nghiệp cao đặc biệt là miền Trung Việt Nam và khu vực miền núi vẫn là rào cản ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển và sự tăng trưởng mang tính sâu rộng. Sự chêch lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn khá lớn.  Phần lớn những người nghèo tập trung ở khu vực nông thôn; 32% tổng dân số sống dưới mức nghèo đói và 17% vẫn thuộc dạng hộ rất nghèo.  Nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em thường tập trung ở khu vực nông thôn nghèo đang là một vấn đề nhức nhối. Thêm nữa, khu vực nông thôn Việt Nam là khu vực thường xuyên ra nhiều thiên tai như hạn hán và lũ lụt. Trên bình diện tích cực, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ký kết năm 2000 đã làm cho xuất khẩu tăng mạnh và phục hồi những cải cách chiến lược hiện đang theo đuổi.  Hiện nay Hoa Kỳ đang là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Cùng với sự cải thiện về tiếp cận cơ sở hạ tầng, những vấn đề về môi trường, y tế, giáo dục cũng được cải thiện trong thập kỷ vừa qua.  Tỷ lệ ròng học sinh đến trường tại Việt Nam tiếp tục tăng đạt mức 90% ở khu vực nông thôn, trong khi  ở khu vực thành thị tỷ lệ đó dao động ở mức 95%. Tỷ lệ biết chữ ở nông thôn cũng tăng lên trong khi tỷ lệ học sinh/giáo viên ở cấp cơ sở giảm xuống 28/1.  Hiện nay người dân tiếp cận hệ thống vệ sinh và các nguồn cung cấp nước sạch dễ dàng hơn ở cả khu vực thành thị và nông thôn.  Hơn 50% dân cư nông thôn giờ đây đã có thể lấy nước từ các giếng khoan và các nguồn nước đã được cải thiện khác.  Tuy nhiên HIV/AIDS đang là mối quan tâm ngày càng tăng, trong vòng 10 năm qua số lượng những ca nhiễm HIV/AIDS tăng ở mức 7%/năm.

3. CHƯƠNG TRÌNH

Để giải quyết những thách thức trên, chương trình của USAID tập trung vào những vấn đề sau:

a. Chương trình Cải cách Kinh tế:

USAID đang hỗ trợ Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường bằng cách tăng cường quá trình tự do thương mại, cụ thể là các cải cách luật pháp cần thiết cho việc thực hiện các cam kết trong Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA) và gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).   USAID đã đưa tới Việt Nam một đội ngũ các nhà kinh tế và các chuyên gia luật pháp, và họ đã thiết lập mối quan hệ làm việc chặt chẽ đặc biệt với các nhà hoạch định chính sách cao cấp của Việt Nam tại các cơ quan hành pháp cũng như Quốc hội.  Các chương trình tài trợ tập trung vào chương trình nghị sự về cải cách hành chính và luật pháp của chính phủ liên quan đến Hiệp định BTA và thành viên WTO.  Những chương trình này bao gồm Luật Tố tụng Dân sự, Luật Đầu tư nhằm mang lại sự đối xử bình đẳng cho các doanh nghiệp nhà nước và các công ty tư nhân, Luật Chứng Khoán nhằm phát triển thị trường vốn của Việt Nam, Luật Sở hữu Trí tuệ (IPR), quy trình tố tụng và nhiều lĩnh vực khác.  Các chương trình này trợ giúp đắc lực cho hệ thống tư pháp của Việt Nam. Thêm vào đó, các chương trình còn trợ giúp các cơ quan điều hành như Uỷ ban Chứng Khoán Nhà nước và Cục Cạnh Tranh  nhằm giúp tăng cường năng lực quản lý và thiết lập hệ thống nhằm phát triển một nền kinh tế tổng hợp hơn.  Cuối cùng, USAID trợ giúp việc phân tích chính sách và trợ giúp kỹ thuật để phát triền nền kinh tế tư nhân Việt Nam và các nhóm nghiên cứu để phát triển lĩnh vực này trở thành động lực phát triển kinh tế Việt nam.

Chương trình chủ yếu trong lĩnh vực này là Chương trình 5 năm Trợ giúp Tăng cường Thương mại (STAR-Việt Nam) được thiết kế nhằm giúp chính phủ Việt Nam thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và giúp Việt Nam gia nhập WTO.  Cộng tác với Phòng Thương Mại Công Nghiệp, USAID đã đưa ra Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cẩp tỉnh để đo lường môi trường cạnh tranh tại các tỉnh.  Đây là một phần của dự án Tăng cường Năng lực Cạnh tranh (VNCI) tập trung vào xây dựng năng lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa và tận dụng lợi thế của các chương trình cải cách luật pháp và thể chế và tăng khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng.

b. Chương trình Hỗ trợ nhân đạo

Trợ giúp nhân đạo tật tập trung vào các nhóm dễ bị tổn thương có chọn lọc, bao gồm các nạn nhân chiến tranh, người khuyết tật và giảm nhẹ thiên tai.  Kể từ khi USAID thiết lập các hoạt động trong lĩnh vực này từ năm 1991 đến nay, phần lớn các chương trình nhân đạo của USAID được tài trợ thông qua Quỹ Nạn nhân Chiến tranh Leahy (LWVF) và Quỹ Trẻ em Mồ côi và Khuyết tật (DCOF). Từ năm 1991 đến năm 2001 hai quỹ này đã hỗ trợ hơn 30 triệu đôla cho nhiều dự án do các tổ chức phi chính phủ thực hiện nhằm cung cấp chân tay giả, phục hồi chức năng, cải thiện việc di chuyển cho người khuyết tật. Chương trình hỗ trợ tập trung việc vào việc phục hồi và cung cấp các bộ phận chân tay giả cho những người khuyết tật.

Là một nhà tài trợ lớn cho người khuyết tật, hiện nay USAID đang chuyển hướng tiếp cận sang các chính sách quốc gia rộng lớn hơn.  Mục đích chính là tạo cơ hội cho năm triệu người khuyết tật có tiếng nói lớn hơn trong các chính sách công cộng ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, có cơ hội được tham gia giáo dục hoà nhập, có cơ hội lớn hơn và có ý nghĩa hơn về công ăn việc làm và thâm nhập vào cộng đồng thuận lợi hơn.  Nhằm đối phó với các bão lụt ở Việt Nam, USAID tích cực trợ giúp tăng cường khả năng phòng chống, bao gồm hệ thống báo bão lụt sớm tại các tỉnh miền Trung Bộ của Việt Nam và cải thiện hệ thống dự báo thời tiết trên cả nước và phát triển hệ thống báo bão bằng radio cho ngư dân dọc bờ biển Việt Nam.  Cuối cùng, USAID cũng cung cấp dịch vụ phục hồi cho phụ nữ và trẻ em được cứu thoát khỏi việc mua bán phụ nữ và trẻ em.  Việt nam đã nhận được khoảng 5 triệu trong số 25 triệu đô la Chính phủ Hoa kỳ bổ xung cho việc chống dịch cúm gà. Sự trợ giúp này vừa mới bắt đầu và gồm cả sự trợ giúp tài chính cho công tác chung của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhằm giúp phòng chống và đưa ra các biện pháp cứu trợ (2 triệu đô la) cũng như các hoạt động giáo dục công cộng và tăng cường năng lực cho Bộ Y Tế trong lĩnh vực này.

c. Chương trình Y tế và HIV/AIDS

Từ năm 2004, USAID trở thành nhà tài trợ song phương lớn nhất cho các chương trình HIV/AIDS tại Việt Nam. Được đứng vào vị trí 15 trong danh sách các nước theo Chương trình Khẩn cấp về giảm nhẹ HIV/AIDS của Tổng thống Mỹ vào tháng 6 năm 2004, Việt Nam sẽ nhận được khoảng hơn 43 triệu đô la nhằm phòng chống và chữa trị HIV/AIDS đến cuối năm 2005. Nhóm Kết hoạch Khẩn cấp, do USAID, CDC và DOD kết hợp với các đối tác Việt Nam và quốc tế cùng đấu tranh phòng chống căn bệnh hiểm nghèo do tiêm chích ma tuý và mại dâm gây ra tại Việt Nam. Bộ Y tế Việt Nam dự đoán số người bị nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam lên tới từ 215 ngàn đến 315 ngàn người.

Hiện nay USAID trợ giúp 23 tổ chức thực hiện chương trình HIV/AIDS theo một loạt cách tiếp cận sáng tạo. Để chống lại các trường hợp viêm nhiễm mới và làm nhẹ bớt gánh nặng cho những người đang sống chung với HIV, USAID triển khai các chương trình lớn về phòng chống, chữa và điều trị cho các nhóm dễ bị tổn thương và những người bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi căn bệnh này. Hiện nay USAID vẫn duy trì tài trợ cho hoạt động của FHI (Tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế) thực hiện với những người dùng kim tiêm và gái mại dâm tại cộng đồng, cung cấp các phương án cho thay đổi hành vi, cung cấp thông tin về tránh viêm nhiễm HIV, phát hiện viêm nhiễm về HIV và các truyền lây nhiễm qua đường tình dục sau đó chuyển đến các khu chăm sóc bệnh nhân HIV. Một dự án tài trợ khác của USAID được thực hiện tại thành phố cảng công nghiệp Hải Phòng ở phía Bắc Việt Nam sẽ thiết lập chương trình thay thế thuốc metadone bền vững đầu tiên, kết hợp với việc tư vấn về vấn đề lạm dụng thuốc tập trung vào 1000 người nghiện lâu năm trong năm đầu tiên. Tại thành phố Hồ Chí Minh, những hỗ trợ về công nghệ và nguồn tài trợ của USAID đang được sử dụng để giúp đỡ các bệnh nhân trong trung tâm cai nghiện của chính phủ (hơn nửa trong số đó bị nhiễm HIV) sớm đưa họ trở lại cộng đồng, nhận hỗ trợ để phòng chống tái nghiện và chăm sóc những bệnh nhân nhiễm HIV.  Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, USAID tài trợ cho SHAPC (Trung tâm phòng chống AIDS/HIV/các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục) trong việc đào tạo các hội viên của đoàn thành niên của 3 trường đại học ở Hà Nội, giáo dục sinh viên thấy được ích lợi của việc giữ gìn bản thân và chung thủy với bạn tình. Quỹ Cứu trợ Trẻ em đã nhận hỗ trợ để tiến hành một đánh giá quan trọng về hành vi và thái độ thanh niên Việt Nam, phát hiện các vấn đề mấu chốt nhằm tăng cường hơn nữa công tác phòng chống.  Các hoạt động khác của USAID tập trung vào việc bảo vệ những người sống với HIV/AIDS để đảm bảo rằng ý kiến của họ được xem xét bởi các nhà hoạch định chính sách nhằm hỗ trợ Chiến lược quốc gia về HIV/AIDS.

Tuy nhiên, các chương trình y tế không chỉ giới hạn ở can thiệp về HIV. Ngoài Dự án Cứu trợ Trẻ em cho dân tộc thiểu số của tỉnh Quảng Trị thông qua Quỹ Cứu trợ Trẻ em Mỹ , USAID còn hỗ trợ trung tâm đào tạo làm mẹ an toàn và chăm sóc sau khi đẻ ở tỉnh Thanh Hoá.

d. Chương trình Môi trường

Sáng kiến mới về môi trường trong khu vực sẽ làm cải thiện điều kiện môi trường ở Châu Á thông qua việc hợp tác vùng nhằm đạt được những hiệu quả bền vững. Những ưu tiên của USAID dành cho Việt Nam bao gồm tiếp cận rộng rãi hơn vào hệ thống vệ sinh và cung cấp nước an toàn; tăng cường thực thi qui định về môi trường và mở rộng sự tham gia của công chúng; hạn chế những xung đột về ranh giới lãnh thổ; bảo vệ nguồn tài nguyên rừng và hệ sinh thái rừng; và hỗ trợ sự quản lý đô thị bền vững.

Những chương trình khu vực về quản lý của chính phủ và nguồn nước cấp được thực hiện bởi PADCO và Quỹ Châu Á sễ bước đầu sẽ tập trung vào nước sạch và hệ thống vệ sinh ở khu vực đô thị nghèo, tuân thủ và thực thi các qui định về môi trường và đề quản lý xung đột. Chương trình này hỗ trợ thực hiên Các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc, được xây dựng dựa trên những hoạt động hiện nay nhằm tăng cường sử dụng nước sạch. USAID sẽ tăng cường năng lực cưỡng chế thực thi quốc gia thông qua Mạng lưới Tuân thủ và Cưỡng chế Thực thi Môi trường Châu Á (AECEN), và xây dựng năng lực thể chế quản lý xuyên biên giới và xung đột của Uỷ Ban Sông Mê Kông.

Để chống lại những hoạt động buôn bán động vật hoang dã, USAID sẽ tài trợ cho tổ chức WildAid và TRAFFIC nhằm ngăn chặn kinh doanh mua bán động vật trên thị trường chợ đen, đe doạ đến hệ sinh thái toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng và tổn hại phúc lợi kinh tế. WildAid sẽ giúp đỡ ASEAN và các nước khác (đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Ấn Độ) trong việc thành lập Liên minh Thực thi Pháp luật về Động vật Hoang dã Châu Á (AWLEA) nhằm đẩy mạnh hợp tác hỗ trợ thực thi quốc tế, và AWLEA sẽ xây dựng lực lượng đặc nhiệm quốc gia giúp tăng cường sức mạnh cưỡng chế nhà nước trong việc thực thi pháp luật về động vật hoang dã.  Một mạng lưới khu vực cũng sẽ được thành lập nhằm kiểm soát những hoạt động kinh doanh động vật bất hợp pháp diễn ra giữa các nước.

Việc bảo tồn sự đa dạng sinh thái được thực hiện thông qua một hiệp định hợp tác kéo dài 3 năm với trị giá 4,9 triệu đôla với Winrock International nhằm nâng cao sự quản lý bền vững sự đa dạng sinh thái và tài nguyên thiên nhiên thuộc khu vực sông Mekông.  Tại Việt Nam, Winrock và các đối tác sẽ duy trì và phục hồi liên kết hệ sinh thái trong hành lang đa dạng sinh thái; trình diễn các cơ chế tài trợ bền vững, chẳng hạn cơ chế thanh toán dịch vụ về môi trường (PES); cải thiện sinh hoạt của nông dân nghèo; và tăng cường công tác quản lý môi trường và xây dựng thể chế.

USAID sẽ hỗ trợ Sáng kiến về Các Thành phố ASEAN Bền Vững bằng việc giúp đỡ các quan chức và các nhà lãnh đạo môi trường thành phố  của 23 thành phố ASEAN nhằm tiến hành và phát triển những kế hoạch đô thị tổng thể . Tại Việt Nam,  Ban Phát triển Cộng đồng và Kinh tế Oregon đang hợp tác với thành phố  Hà Nội nhằm giải quyết vấn đề quản lý chất lượng không khí, trong khi đó Trường đại học New Hamshire đang hợp tác với Vịnh Hạ Long để giải quyết vấn đề cấp nước và chất lượng nước.

TÌNH HÌNH TÀI TRỢ

Mức tài trợ của USAID cho Việt Nam trong 5 năm qua như sau: (Đơn vị: Triệu đô-la)

Tài khoáFY2000FY2001FY2002FY2003FY2004FY2005
Tổng số 8,82 14,00 14,88 13,18 14,10 22,45

 

Cơ cấu tài trợ theo lĩnh vực như sau: FY 2000-FY 2005

  • Sức khỏe & HIV/AIDS: 46%
  • Phát triển kinh tế: 25%
  • Viện trợ nhân đạo: 23%
  • Môi trường: 6%

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ