jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Trung tâm Hoa Kỳ Các dịch vụ của AC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ Các chương trình trao đổi giáo dục Quan hệ Mỹ-Việt Góc Nghiên cứu Việt Nam-Hoa Kỳ Học tập ở Hoa Kỳ Cơ hội xin viện trợ/học bổng Các hoạt động dành cho công chúng

Các vấn đề toàn cầu

ĐÁNH GIÁ NỖ LỰC CHỐNG BUÔN NGƯỜI CỦA CHÍNH PHỦ MỸ, NĂM TÀI CHÍNH 2006

Tháng 9/2007

I. Giới thiệu

Buôn người là tội ác chống lại phẩm giá con người, trong đó con người, mà  nhiều người trong số họ là thanh thiếu niên và trẻ em, bị những kẻ tội phạm mua đi, bán lại và lạm dụng tình dục. Quốc gia chúng ta quyết tâm đấu tranh và chấm dứt hình thức nô lệ hiện đại này.
--
Tổng thống George W. Bush, tháng 1/2006

Buôn người xúc phạm đến thể xác, tinh thần và tâm hồn con người. Để tội ác ghê tởm này diễn ra ở một đất nước mà cả thế giới hướng tới như thành trì của tự do... là một sự mỉa mai và một tấn thảm kịch.
--Tổng chưởng lý Alberto Gonzales, tháng 10/2006

Thật đáng buồn khi buôn người là hình thức nô lệ hiện đại phổ biến. Mỹ là một trong những quốc gia đi đầu trong cuộc chiến chống lại loại tội ác ghê sợ này. Trọng tâm trong những nỗ lực của Chính phủ Mỹ là Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Buôn người năm 2000 (TVPA), Pub.L.106-386, ký ban hành thành luật ngày 28/10/2000. Đạo luật TVPA tăng cường ba khía cạnh trong hoạt động chống buôn người của Chính phủ Liên bang: bảo vệ, truy tố và ngăn chặn hoạt động buôn người. Đạo luật TVPA quy định hàng loạt biện pháp mới bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân buôn người; mở rộng các loại tội danh và tăng cường hình phạt cho điều tra viên và công tố viên liên bang truy lùng những kẻ buôn người; đồng thời mở rộng các hoạt động quốc tế của Chính phủ Mỹ ngăn chặn các trường hợp nạn nhân bị buôn bán.
Đạo luật TVPA đã được sửa đổi vào các năm 2003 (TVPRA 2003) và năm 2005 (TVPRA 2005). Mỗi lần sửa đổi, Quốc hội đều bổ sung thêm trách nhiệm chống buôn người của Chính phủ Mỹ, trong đó có việc sửa đổi các điều khoản trong luật hình sự liên bang; quy định về quyền dân sự mới cho phép nạn nhân kiện những kẻ buôn người trước tòa lưu động liên bang; các chương trình hỗ trợ nỗ lực thực thi luật pháp chống buôn người ở các bang và địa phương và mở rộng các chương trình hỗ trợ cho nạn nhân là công dân Mỹ hoặc ngoại kiều; thí điểm chương trình thiết lập các cơ sở lưu trú hồi phục nạn nhân, trong đó có chương trình dành cho đối tượng là trẻ vị thành niên; và quy định phạm vi đặc quyền ngoại giao của nhân viên Chính phủ Liên bang phạm các tội danh buôn người ở nước ngoài.
Đây là bản Đánh giá thứ năm nhằm phân tích hiệu quả thực tế các hoạt động chống buôn người của Chính phủ Mỹ. Các bản Đánh giá trước được đưa ra tháng 8/2003, tháng 6/2004, tháng 9/2005 và tháng 9/2006. Bản đánh giá này độc lập với Báo cáo hàng năm của Tổng chưởng lý trình Quốc hội về Nỗ lực chống buôn người của Chính phủ Mỹ vào tháng 5/2004, tháng 7/2005, tháng 6/2006 và tháng 5/2007. Các báo cáo này có trên website của Bộ Tư pháp tại địa chỉ http://www.usdoj.gov/olp/human_trafficking.htm. Bản đánh giá này cũng độc lập với Báo cáo hàng năm về nạn buôn người của Bộ Ngoại giao tại website http://www.state.gov/g/tip.
Trong bản Đánh giá tháng 9/2006, Chính phủ Mỹ đưa ra 4 kiến nghị nhằm tăng cường nỗ lực chống buôn người. Các phần tiếp theo của bản Đánh giá này đề cập đến những thành công của Chính phủ Mỹ, đánh giá tiến bộ thực hiện các kiến nghị của bản Đánh giá tháng 9/2006 và đề xuất biện pháp để Chính phủ Mỹ tăng cường nỗ lực chống buôn người. Như được trình bày chi tiết dưới đây, rất nhiều thành tựu của Chính phủ Mỹ trong năm tài khóa 2006 đạt được từ việc thực hiện các kiến nghị của bản Đánh giá tháng 9/2006:

Kiến nghị số 1: Chính phủ Mỹ, các đối tác cấp bang và địa phương, và các tổ chức phi chính phủ cần cải thiện việc điều phối các dịch vụ dành cho nạn nhân, bao gồm gia tăng nỗ lực tìm kiếm nạn nhân, tìm hiểu hỗ trợ mà họ nhận được từ Chính phủ Mỹ và các nhà tài trợ của Chính phủ, đồng thời điều phối nỗ lực cung cấp hiệu quả các dịch vụ cho nạn nhân.

Thành tựu trong năm tài chính 2006:

  • Cơ quan Dịch vụ Nhập cư và Công dân Mỹ đã cố gắng cung cấp hiệu quả hơn các dịch vụ dành cho nạn nhân bằng cách cập nhật danh sách các nhà cung cấp dịch vụ do Bộ Y tế và Dịch vụ Con người thực hiện, rồi phát cho nạn nhân sau khi được cấp thị thực T. Luật pháp quy định Cơ quan Dịch vụ Nhập cư và Công dân Mỹ phải cung cấp danh sách này cho những người nhận thị thực T và dựa vào sự điều phối của Bộ Y tế và Dịch vụ Con người để cập nhật danh sách.
  • Văn phòng Tái định cư Người tị nạn đã hợp đồng với Hội đồng các Giám mục Thiên chúa giáo Mỹ cung cấp các dịch vụ khẩn cấp tính theo đầu người cho nạn nhân buôn người trước khi họ được cấp chứng nhận. Trong năm đầu thực hiện chương trình, 361 nạn nhân buôn người đã được xác định và những người có thị thực T đã được tiếp nhận các dịch vụ này.
  • Bộ phận Hình sự thuộc Phòng các quyền Dân sự của Bộ Tư pháp đào tạo hàng trăm công tố viên và điều tra viên theo phương pháp lấy nạn nhân làm trọng tâm trong điều tra các tội buôn người, nhấn mạnh sự cần thiết phải cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân buôn người.

Kiến nghị số 2: Chính phủ Mỹ cần tăng cường nỗ lực giám sát và chống buôn bán lao động cả trong nước và quốc tế, đặc biệt theo quy định mới trong Đạo luật TVPRA năm 2005 về cưỡng ép lao động và lao động trẻ em.

Thành tựu trong năm tài chính 2006:

  • Phòng Dân quyền tiếp tục đẩy mạnh hoạt động điều tra và truy tố các vụ cưỡng ép lao động, từ các trường hợp nạn nhân đơn lẻ là người giúp việc gia đình đến các vụ lớn với nhiều nạn nhân như vụ giải cứu gần 100 phụ nữ Trung Phi bị ép làm việc trong các nhà hàng, quán ba và những quán rượu nhỏ xung quanh Houston, bang Texas. Phòng Dân quyền tăng cường hợp tác với Bộ Lao động điều tra và truy tố các vụ cưỡng ép lao động. Ví dụ, các công tố viên của Phòng đã tham khảo các chuyên gia của Bộ Lao động để xác định các vụ buôn bán lao động, làm chứng tại tòa, và tính toán khoản tiền bồi thường trong các vụ cưỡng ép lao động.
  • Trong năm tài khóa 2006, Phòng Lương và giờ làm của Bộ Lao động tăng cường tham gia vào các nhóm đặc trách chống buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ. Về các nhóm đặc trách này, chúng tôi sẽ đề cập chi tiết hơn ở phần sau. Phòng Lương và giờ làm hiện tham gia 36/42 nhóm đặc trách. Với tư cách là thành viên của nhóm đặc trách, Phòng này nhấn mạnh việc tuân thủ các luật về tiêu chuẩn lao động trong các ngành công nghiệp trả lương thấp thuê nhân công là những người dễ bị tổn thương và có khả năng bị buôn bán. Các điều tra viên của Phòng phỏng vấn người lao động, xem xét bảng lương và điều tra trường hợp của người lao động nông nghiệp di cư.
  • Trong năm tài khóa 2006, Chính phủ Mỹ đã tài trợ nhiều dự án quốc tế chống buôn bán và cưỡng ép lao động. Bộ phận phụ trách các Chương trình Quốc tế thuộc Phòng Giám sát và Đấu tranh chống Buôn người của Bộ Ngoại giao (G/TIP) đã hỗ trợ các dự án với trọng tâm cụ thể là tình trạng cưỡng ép lao động ở Trung Đông, Nam Á và Đông Á. Ví dụ, G/TIP tài trợ một dự án nâng cao cảnh giác của người dân Kuwait nhằm cảnh báo và bảo vệ người lao động nước ngoài trước các vụ cưỡng ép lao động. G/TIP cũng tài trợ chương trình Giải phóng Nô lệ ở Ấn Độ nhằm giải cứu và phục hồi các nạn nhân là trẻ em bị ép buộc lao động, đồng thời trang bị cho cộng đồng những kiến thức và biện pháp để bảo vệ trẻ em tốt hơn. G/TIP còn kêu gọi thực hiện các dự án nghiên cứu về buôn bán nam giới để cưỡng ép lao động, với các dự án ở Đông và Nam Phi, Séc-bi-a và Phi-líp-pin sẽ nhận được tài trợ vào cuối năm tài khóa 2007.

Kiến nghị số 3: Chính phủ Mỹ cần tiếp tục nghiên cứu để thu thập thông tin chính xác hơn, ước tính số nạn nhân buôn người ở Mỹ, nhưng cần tập trung vào các “nghiên cứu hành động” để tăng cường khả năng chống buôn người của Chính phủ. Các nghiên cứu sâu hơn phải phục vụ mục tiêu tăng cường hiểu biết của chúng ta về bản chất và phạm vi hoạt động buôn người ở Mỹ và khả năng giải cứu nạn nhân và truy tố những kẻ buôn người.

Những thành tựu của năm tài chính 2006:

  • Trung tâm chống buôn người và đưa người qua biên giới đã chuẩn bị một số đánh giá và nghiên cứu chiến lược nhằm giúp các cơ quan xác định phân bổ các nguồn lực và sử dụng các công cụ chống buôn người. Trung tâm chống buôn người và đưa người qua biên giới còn cập nhật tài liệu hướng dẫn chống buôn người. Trong năm tài khóa 2006, Trung tâm chống Buôn người và đưa người qua biên giới hoạt động với tư cách là cơ quan của Chính phủ có nhiệm vụ sàng lọc thông tin buôn người và du lịch trái phép và đã soạn nhiều bức điện, báo cáo và đánh giá.
  • Tiểu ban Nghiên cứu Buôn người của Nhóm Chính sách cao cấp, Bộ Ngoại giao có mục tiêu tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm thông qua thu thập thông tin về tất cả các dự án nghiên cứu chống buôn người do Chính phủ tài trợ được phân bổ theo năm tài khóa và theo đơn vị. Các số liệu thống kê này giúp đảm bảo rằng các cơ quan của Mỹ nắm được tất cả các dự án nghiên cứu được tài trợ về lĩnh vực này, và có khả năng phân tích khoảng cách thông tin và các lĩnh vực vẫn cần phải có “nghiên cứu hành động” (tức là nghiên cứu về những vấn đề cụ thể và các lĩnh vực thực hiện).
  • Cục Hải quan và Nhập cư Mỹ hoạt động với tư cách thành viên ban điều hành và là cơ quan đại diện thực thi luật pháp Mỹ chủ yếu trong Nhóm Đặc trách Toàn cầu - mạng lưới các cơ quan thực thi luật pháp của nhiều quốc gia được lập ra để chống tình trạng lạm dụng trẻ em trên mạng. Các cơ quan thực thi luật pháp này, các tổ chức phi chính phủ và đại diện khu vực tư nhân chia sẻ thông tin và chiến lược, tiến tới giảm mạnh tình trạng lạm dụng trẻ em trên mạng.
  • Để thực hiện nhiệm vụ pháp định theo Khoản 201 trong Đạo luật TVPRA 2005, Viện Tư pháp Quốc gia sẽ cấp ba khoản hỗ trợ mới để nghiên cứu các vụ buôn người và hoạt động tình dục vì mục đích thương mại ở Mỹ.

Kiến nghị số 4: Chính phủ Mỹ cần tăng cường nỗ lực xác định nạn nhân, cụ thể qua việc mở rộng cách tiếp cận tập trung vào lĩnh vực công việc sang lĩnh vực y tế công cộng, cộng đồng giáo dục, các chức sắc tôn giáo, các lĩnh vực công việc khác hoặc những tổ chức ứng phó đầu tiên.

Các thành tựu trong năm tài chính 2006:

  • Số lượng các nhóm đặc trách về buôn người của Bộ Tư pháp tăng lên từ 32 nhóm vào cuối năm tài chính 2005 lên 42 nhóm vào cuối năm tài chính 2006. Các nhóm đặc trách hoạt động với sự hợp tác mở rộng giữa Văn phòng Luật sư trưởng Mỹ, một cơ quan thực thi pháp luật địa phương hoặc của bang do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ, một nhà cung cấp dịch vụ cho nạn nhân buôn người được Văn phòng phụ trách Nạn nhân tài trợ toàn diện và các cơ quan điều tra Liên bang khác, nhằm xác định và giải cứu nạn nhân buôn người và truy tố những kẻ buôn người. Phòng các quyền Dân sự tổ chức huấn luyện cách xác định nạn nhân cho hàng trăm công tố viên, điều tra viên, và đại diện các tổ chức phi chính phủ, kể cả thành viên các nhóm đặc trách có nhiệm vụ chính là đưa ra các sáng kiến xác định nạn nhân. Những sáng kiến này bao gồm công tác tuyên truyền cơ sở tại các cộng đồng dễ bị tổn thương ở các vùng nông thôn, các chiến dịch nâng cao nhận thức của người dân và các biện pháp nhằm tăng cường công tác báo cáo cho cơ quan thực thi pháp luật về những trường hợp có khả năng là buôn người ở các khu trung tâm đô thị. Để tăng cường sự phối hợp giữa chiến dịch Giải cứu và Hồi phục của Bộ Y tế và Dịch vụ con người và các sáng kiến thực thi pháp luật, một khóa huấn luyện về công việc xác định nạn nhân của Bộ Y tế và Dịch vụ con người đã được thực hiện.
  • Trong năm tài chính 2006, Văn phòng Đào tạo, Hỗ trợ và Phát triển công tố viên nước ngoài đã thực hiện 56 chương trình chống buôn người tại 21 quốc gia. Mục tiêu của các chương trình này là đào tạo và huấn luyện cho các chuyên gia y tế công cộng, các quan chức tòa án, các nhà cung cấp dịch vụ cho nạn nhân, các tổ chức phi chính phủ, quan chức chính phủ, các nhân viên thực thi luật pháp và các thẩm phán ở khắp nơi trên thế giới.
  • Trong năm tài chính 2006, Bộ Y tế và Dịch vụ con người tập trung nỗ lực tuyên truyền đối với các tổ chức y tế công cộng qua các hoạt động như huấn luyện, tổ chức các buổi nói chuyện và hội thảo. Bộ Y tế và Dịch vụ con người đã huấn luyện các tuyên truyền viên, người quản lý vụ án, điều phối viên chương trình theo dõi sức khỏe của người tị nạn và 9 sở y tế tham gia thông qua Sở Y tế bang Illinois. Bộ Y tế và Dịch vụ con người đã tổ chức các buổi nói chuyện với Mạng lưới các phòng khám dành cho người di cư và Học viện Bác sỹ điều trị tại gia của Mỹ.
  • Sau hội nghị Nhóm đặc trách liên ngành của Tổng thống tháng 6/2006, G/TIP đã hợp tác với Bộ Giao thông khuyến khích Hiệp hội Vận tải Hàng không và Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế, cơ quan đại diện cho 265 hãng hàng không và chiếm 94% số chuyến bay quốc tế, nhằm tăng cường nhận thức về vấn đề du lịch mại dâm trẻ em.
  • G/TIP cũng đang hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, Hiệp hội Khách sạn và Nhà trọ Mỹ và Hội đồng Liên giáo về trách nhiệm tập thể để đảm bảo có được sự hỗ trợ từ các hệ thống khách sạn quốc tế chính trong việc thông qua các bộ quy tắc ứng xử đạo đức, huấn luyện chống bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại, và củng cố nhận thức của khách hàng về vấn đề này. G/TIP cũng đang phát triển quan hệ với các đối tác trong các khu vực kinh tế khác như ngành luật và lĩnh vực công nghệ cao.

II. Lợi ích và dịch vụ trong nước dành cho nạn nhân buôn người

Ở trong nước, nỗ lực chống buôn người của Chính phủ Mỹ thành công là nhờ cách tiếp cận lấy nạn nhân làm trọng tâm. Bởi vậy, tất cả các cơ quan chính phủ Mỹ cam kết cho nạn nhân được tiếp cận với các dịch vụ và lợi ích theo quy định của Đạo luật TVPA. Vì những lợi ích mà chính phủ dành cho nạn nhân không phải là công dân Mỹ gắn liền với quy chế nhập cư của họ, nên Đạo luật TVPA đã tạo ra cơ chế cho phép các nạn nhân buôn người không phải là công dân Mỹ được tiếp cận các dịch vụ và lợi ích mà lẽ ra họ không được hưởng. Nguồn quỹ nhằm cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho nạn nhân do Chính phủ Liên bang cung cấp theo Đạo luật TVPA được sử dụng để hỗ trợ nạn nhân không phải là công dân Mỹ và hiện tại có thể không được sử dụng để hỗ trợ các nạn nhân là công dân Mỹ. Tuy nhiên, nạn nhân là công dân Mỹ lại được tiếp cận với các lợi ích khác của Chính phủ Liên bang. Theo các khoản 107(b)(1) và 107(b)(2) của Đạo luật TVPA, nhiều cơ quan liên bang phải mở rộng một số lợi ích hiện có cho nạn nhân buôn người và được phép cấp các khoản hỗ trợ để sự trợ giúp đó có hiệu quả. Điều khoản này xem xét hoạt động của Bộ Y tế và Dịch vụ con người, Bộ Tư pháp, Bộ An ninh Nội địa, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Công ty Dịch vụ Pháp lý nhằm thực hiện các khoản 107(b) và 107(c) của Đạo luật TVPA.

A. Bộ Y tế và Dịch vụ con người

1. Giấy chứng nhận và xác nhận đủ điều kiện nhận hỗ trợ

Đạo luật TVPA quy định việc “chứng nhận” các nạn nhân trưởng thành để nhận những lợi ích hoặc dịch vụ do Chính phủ Liên bang tài trợ hoặc quản lý như hỗ trợ tiền mặt, chăm sóc y tế, phiếu mua lương thực và hỗ trợ nhà ở. Trong năm tài chính 2006, Văn phòng Tái định cư người Tị nạn đã cấp 214 giấy chứng nhận cho người lớn và 20 giấy xác nhận đủ điều kiện cho các đối tượng vị thành niên, tổng cộng là 234 giấy chứng nhận được cấp trong năm 2006, nâng tổng số giấy chứng nhận được cấp trong 6 năm tài khóa đầu tiên lên 1076. Trong năm tài chính 2006, 94% nạn nhân được chứng nhận là phụ nữ.

 2001

2002

2003

 2004

2005

2006

198

99

151

163

231

234

Trong năm tài chính 2006, giấy chứng nhận và xác định đủ điều kiện được cấp cho nạn nhân hoặc đại diện của họ ở 20 bang, kể cả Quận Columbia, Guam và các đảo Bắc Mariana. Các nạn nhân được chứng nhận đến từ hơn 40 nước, bao gồm các nước ở châu Mỹ, châu Phi, châu Á, châu Âu và các đảo Thái Bình Dương. Đa số nạn nân có nguồn gốc Mỹ Latinh (62%), trong đó đông nhất là từ El Salvador (28%) và Mê-hi-cô (20%). Có những vụ chỉ có một nạn nhân, nhưng cũng có những vụ lớn với hơn 100 nạn nhân.

2. Trợ cấp dịch vụ

Văn phòng Tái định cư Người tị nạn tận dụng cả các hợp đồng và các khoản trợ cấp linh hoạt để xây dựng mạng lưới các tổ chức dịch vụ sẵn sàng hỗ trợ nạn nhân của các hình thức buôn người nghiêm trọng. Tháng 4/2006, Văn phòng đã ký một hợp đồng với Hội đồng Giám mục Thiên chúa giáo Mỹ cung cấp các dịch vụ tính theo đầu người cho các nạn nhân. Thông qua hợp đồng này, Văn phòng đã cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, giúp các nạn nhân có chỗ ở, đào tạo việc làm và chăm sóc sức khoẻ, đồng thời tạo ra cơ chế để nạn nhân tiếp nhận các dịch vụ cấp cứu khẩn cấp trước khi có giấy chứng nhận. Hợp đồng này cung cấp dịch vụ tính theo đầu người cho những nạn nhân đã được chứng nhận và trước khi được chứng nhận. Trong năm đầu tiên của hợp đồng, 361 nạn nhân buôn người đã được chứng nhận và những người có thị thực T và 117 nạn nhân buôn người chưa được chứng nhận, đã được nhận các dịch vụ này.[1]

Bộ Y tế và Dịch vụ con người tiếp tục cung cấp nguồn lực và lựa chọn thực thi luật pháp cho các nạn nhân vị thành niên. Nạn nhân buôn người là trẻ em không có người lớn đi kèm đủ điều kiện được chăm sóc nuôi dưỡng do chương trình Người tị nạn vị thành niên thực hiện. Chương trình này có các mức độ chăm sóc khác nhau phù hợp với nhu cầu của nạn nhân và tiếp nhận nạn nhân buôn người là trẻ vị thành niên một cách nhanh nhất có thể. Văn phòng Tái định cư Người tị nạn cũng sắp xếp để Bộ phận phụ trách các Dịch vụ dành cho trẻ em không ai đi kèm (DUCS) được tiếp nhận trẻ em vị thành niên bị buôn bán và cung cấp các dịch vụ phù hợp thông qua hệ thống nhà ở và nơi tạm trú. Một bản phụ lục dài hai trang sàng lọc các dấu hiệu dùng vũ lực, lừa đảo, hoặc cưỡng ép đã được đính kèm với các mẫu tiếp nhận ở các cơ sở tạm trú của DUCS. Công cụ sàng lọc dẫn tới các đề nghị thực thi pháp luật và các vụ điều tra mới. Cục Trẻ em và Gia đình của Bộ Y tế và Dịch vụ con người cũng cung cấp những nơi tạm trú khẩn cấp cho trẻ vị thành niên, kể cả các dịch vụ Bảo vệ Trẻ em ở các bang, 345 Trung tâm Cơ sở trên cả nước và 193 Chương trình Chuyển đổi cuộc sống cho Thanh niên vô gia cư lớn tuổi hơn do Cục Dịch vụ Thanh niên và Gia đình hỗ trợ.

3. Nỗ lực cải thiện dịch vụ

Trong năm tài chính 2005, theo công cụ đánh giá và xếp hạng chương trình của Văn phòng Quản lý và Ngân sách của Nhà Trắng thì Chương trình chống buôn người của Bộ Y tế và Dịch vụ con người được đánh giá là đạt hiệu quả khá tốt. Đánh giá này cho thấy chương trình đã được quản lý tốt, tập trung vào việc đạt kết quả và thực hiện những bước đi lớn nhằm cải thiện hình thức, vấn đề quản lý và thực hiện. Chương trình có mục tiêu dài hạn là tăng số nạn nhân buôn người được chứng nhận lên 800 người mỗi năm vào năm tài chính 2011. Thêm vào đó, chương trình có 2 biện pháp hiệu quả gồm: (1) tăng số lượng nạn nhân được chứng nhận và được phục vụ bởi toàn bộ mạng lưới các nhà tài trợ với hàng triệu đô-la đã đầu tư và (2) tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông, các cuộc gọi theo đường dây nóng và số lần truy cập website tương ứng với hàng nghìn đô-la đã đầu tư.

B. Bộ Tư pháp

1. Cục Trợ giúp Pháp lý

Tháng 3/2006, Cục Trợ giúp Pháp lý và Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân đưa ra bản lấy ý kiến thứ ba về chống buôn người. Các bang, các hạt và các cơ quan thực thi pháp luật được yêu cầu đưa ra đề xuất về việc hợp tác với văn phòng chưởng lý Mỹ (USAO) tại địa phương và một cơ quan cung cấp toàn diện dịch vụ cho nạn nhân (sẽ được Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân cung cấp tài chính) nhằm lập ra một nhóm đặc trách chống buôn người đặt trọng tâm vào nạn nhân. Đã có 16 hồ sơ được gửi lên, và Văn phòng các Chương trình Tư pháp đã thông qua 10 suất tài trợ trị giá tới 450.000 đô-la cho mỗi đơn vị được nhận trong giai đoạn 3 năm cộng tác với các luật sư, các cơ quan thực thi pháp luật liên bang và các cơ sở cung cấp dịch vụ cho nạn nhân để xác định, giải cứu nạn nhân và truy tố những kẻ buôn người. Các nhóm đặc trách mới được thành lập ở Las Vegas, bang Nevada; Dallas, bang Texas; Fort Worth, bang Texas; bang Louisiana; thành phố Salt Lake,bang Utah; hạt Bexar, bang Texas; Clearwater, bang Florida; các đảo Bắc Mariana; Independence, bang Missouri; và hạt Erie, bang New York, đưa tổng số các nhóm đặc trách chống tội phạm buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ lên 42 nhóm.

Trong năm 2006, Cục Trợ giúp Pháp lý cũng quản lý hai khoản hỗ trợ do Quốc hội ủy nhiệm. Khoản thứ nhất cho Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Phụ nữ. Đây là lần bổ sung thứ hai trong tổng số 493.614 đô-la hỗ trợ. Thông qua khoản hỗ trợ này, Trung tâm sẽ hỗ trợ cơ quan lập pháp các bang xây dựng luật chống buôn người. Khoản hỗ trợ thứ hai trị giá 987.228 đô-la đã được Cục Trợ giúp Pháp lý trao cho Tổ chức Quốc tế Shared Hope (Chia sẻ Hi vọng). Với khoản hỗ trợ này, Tổ chức Quốc tế Shared Hope sẽ hỗ trợ hai nhóm đặc trách về buôn người hiện có[2] và 10 cơ quan thực thi pháp luật nhận phần thưởng năm 2006 của Cục Trợ giúp Pháp lý dành cho những nhóm đặc trách chống buôn người nào đã xây dựng được các quy định tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các nạn nhân buôn người là công dân Mỹ, mà chủ yếu là trẻ vị thành niên bị bóc lột tình dục vì mục đích thương mại, được tiếp nhận các dịch vụ y tế, tâm lý, pháp luật và các dịch vụ khác phù hợp với họ. Trong năm 2006, Cục Trợ giúp Pháp lý cũng trao một khoản hỗ trợ do Quốc hội ủy nhiệm cho thành phố Westminter, bang California với số tiền là 197.439 đô-la để thành lập Nhóm đặc trách chống buôn người ở quận Cam. Thêm vào đó, để thực hiện trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật tại khoản 201 của Đạo luật TVPRA 2005, Cục Trợ giúp Pháp lý sẽ còn trao ba khoản hỗ trợ nghiên cứu mới để phục vụ công tác nghiên cứu liên quan đến các vụ buôn người và các hoạt động tình dục vì mục đích thương mại.

2. Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân

Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân hiện đang tài trợ 32 chương trình cung cấp dịch vụ trực tiếp cho các nạn nhân buôn người. Trong năm 2006 (gian đoạn thực hiện báo cáo của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân), gần 500 nạn nhân đã được phục vụ và trên 1.600 nạn nhân đã được phục vụ kể từ khi chương trình bắt đầu.[3]

Các khoản hỗ trợ toàn diện cho phép các tổ chức nhận tài trợ có thể cung cấp các dịch vụ trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu rộng lớn của các nạn nhân, từ quản lý vụ việc, luật sư bào chữa, các dịch vụ y tế, nha khoa và tinh thần; nhà ở; quần áo và ăn uống hàng ngày; phiên dịch, đi lại; và tiếp cận với đào tạo tay nghề, việc làm, giáo dục và các dịch vụ xã hội khác. Quỹ hỗ trợ chủ yếu được sử dụng để trợ giúp các nạn nhân trong giai đoạn “chưa được chứng nhận”, tức là khoảng thời gian từ khi nạn nhân được các cơ quan thực thi pháp luật giải cứu cho đến khi được chứng nhận để tiếp nhận các quyền lợi theo quy định của Bộ Y tế và Dịch vụ con người.

Năm 2006, thông qua Lời kêu gọi chung về xây dựng Tài liệu Khái niệm trong năm tài chính 2005 và Bản lấy ý kiến của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân/Cục Trợ giúp Pháp lý trong năm tài chính 2006, Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân đã tài trợ với tổng số tiền là 12.259.676 đô-la cho 30 dự án, cả các dự án mới và các dự án đang được thực hiện để hợp tác với các Nhóm đặc trách chống buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ. Các mục tiêu tổng thể của bản lấy ý kiến chung và chương trình hợp tác với Cục Trợ giúp Pháp lý bao gồm: (1) tiếp tục tăng cường năng lực thực thi luật pháp để xác định và giải cứu các nạn nhân buôn người; (2) cung cấp nguồn lực và huấn luyện cho các cơ quan thực thi pháp luật để xác định và giải cứu nạn nhân và (3) đảm bảo rằng các dịch vụ toàn diện luôn sẵn sàng bất cứ khi nào nạn nhân buôn người được tìm thấy.

Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân hợp tác với Văn phòng Tái định cư Người tị nạn và các tổ chức nhận tài trợ để đảm bảo rằng các khoản tài trợ của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân được sử dụng để cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân buôn người chưa được chứng nhận. Sự hợp tác này cũng là để đảm bảo rằng các tổ chức nhận tài trợ không tiếp nhận tài trợ của cả hai văn phòng để cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân chưa được chứng nhận. Để cung cấp dịch vụ một cách liền mạch trong giai đoạn chuyển tiếp từ “chưa được chứng nhận” sang “được chứng nhận”, nhiều tổ chức nhận tài trợ từ Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân đã xin thêm tài trợ của Văn phòng Tái định cư Người tị nạn để cung cấp dịch vụ hỗ trợ liên tục cho nạn nhân sau khi họ có giấy chứng nhận. Với đối tượng là người nhập cư và người tị nạn thì các tổ chức nhận tài trợ khác cũng đã lên các chương trình dành cho các nạn nhân đang trong thời kỳ chuyển tiếp. Trong từng trường hợp cụ thể, Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân có thể chấp thuận sử dụng các khoản hỗ trợ dành cho các nạn nhân buôn người đã được chứng nhận khi không còn nguồn nào khác.

Các tổ chức nhận tài trợ của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân được yêu cầu phải dành riêng 5% tổng ngân sách dự án của họ cho các hoạt động huấn luyện nhân viên chuyên nghiệp địa phương xác định những người có thể là nạn nhân buôn người và cung cấp dịch vụ đặt trọng tâm vào nạn nhân. Trong năm 2006, các tổ chức nhận tài trợ của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân để cung cấp dịch vụ trực tiếp đã tiến hành đào tạo cơ bản về chống buôn người cho hơn 78.000 nhân viên thực thi pháp luật, các luật sư, chuyên gia y tế và tâm lý và các thành viên cộng đồng.

Danh sách các dự án do Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân tài trợ có thể tìm ở địa chỉ http://www.ojp.usdoj/gov/ovc/help/traffickingmatrix.htm.

C. Bộ An ninh Nội địa

Cục Hải quan và Nhập cư hiện có khoảng 300 đơn vị và nhân viên phụ giúp (nhiệm vụ ngoài giờ giao cho đơn vị hoặc nhân viên và được coi là công việc phát sinh khi cần thiết) có trách nhiệm hỗ trợ nạn nhân. Sau khi giải cứu nạn nhân buôn người, các đơn vị thuộc Cục Hải quan và Nhập cư sẽ cố gắng đối xử với nạn nhân một cách tôn trọng và thông cảm. Khi một số lượng lớn những người có thể là nạn nhân buôn người được giải cứu, ví dụ từ một nhà thổ, thì việc phân biệt giữa nạn nhân và kẻ buôn người sẽ gặp khó khăn. Trước khi xác định được ai là nạn nhân, Cục Hải quan và Nhập cư sử dụng các khách sạn, các trại tạm giam của Cục và các cơ sở khác phù hợp để những người có thể là nạn nhân tạm trú và tiến hành thẩm vấn. Nếu ở các trung tâm tạm giam của Cục, những người có thể là nạn nhân sẽ được tách biệt với những người bị tạm giam khác. Các nhóm điều tra viên, các nhân viên hỗ trợ nạn nhân liên bang và các tổ chức phi chính phủ làm việc ngay trong trung tâm tạm giữ để thẩm vấn bất kỳ người nào. Ngay khi được xác định là nạn nhân, những người này sẽ được một tổ chức phi chính phủ chăm sóc. Đồng thời, các cơ quan liên bang còn có tài liệu được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau giải thích các quyền của nạn nhân buôn người và những dịch vụ dành cho họ. Nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Cục Hải quan và Nhập cư và của nhân viên hỗ trợ nạn nhân là đảm bảo rằng nạn nhân được đọc tài liệu đó bằng tiếng mẹ đẻ hoặc được phiên dịch nếu họ không biết chữ.

Về việc hỗ trợ tài chính khẩn cấp cho nạn nhân sau khi được giải cứu, Chương trình Hỗ trợ nạn nhân/Nhân chứng của Cục Hải quan và Nhập cư sẽ dùng nguồn quỹ Liên bang Hỗ trợ nạn nhân do Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân cấp cho các đơn vị có trọng trách đặc biệt của Cục để giúp đỡ nạn nhân trong trường hợp địa phương không có quỹ hỗ trợ. Trong năm tài chính 2006, Cục Hải quan và Nhập cư đã sử dụng quỹ này để cung cấp chỗ ở và lương thực cho ba nạn nhân người U-crai-na ở New York; cung cấp các dịch vụ khẩn cấp trực tiếp cho 100 phụ nữ Triều Tiên trong các vụ việc xảy ra đồng thời ở New York, New Jersey và Washington; và cung cấp chỗ ở, lương thực và các khoản hỗ trợ khẩn cấp khác cho bốn nạn nhân người Mê-hi-cô ở New York; cung cấp nhà ở, quần áo và lương thực khẩn cấp cho một nạn nhân buôn người vị thành niên đến từ Goa-tê-ma-la. Trong nhiều trường hợp, những quỹ này là rất cần thiết để thu hẹp khoảng cách về dịch vụ dành cho nạn nhân cho đến khi họ được chuyển sang một tổ chức phi chính phủ để được chăm sóc.

D. Bộ Ngoại giao

Trong năm 2006, Cục Dân số, Người tị nạn và Di cư thuộc Bộ Ngoại giao đã hỗ trợ Chương trình Hồi hương, Tái hòa nhập và Đoàn tụ gia đình đối với nạn nhân buôn người. Chương trình này giúp những thành viên gia đình đủ điều kiện được đoàn tụ tại Mỹ với người thân đã bị buôn bán và hỗ trợ nạn nhân nào muốn tự hồi hương. Đối tác triển khai hoạt động của Cục là Tổ chức Di cư Quốc tế phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan thực thi pháp luật, các cộng đồng tôn giáo, tín ngưỡng và các cơ quan Chính phủ Mỹ để hỗ trợ gia đình có người thân là nạn nhân buôn người đã được xác nhận. Sau khi nhận được thị thực T (được đề cập trong phần III dưới đây), nạn nhân buôn người có thể đưa thành viên gia đình đủ điều kiện đến Mỹ như quy định trong Đạo luật TVPA. Tổ chức Di cư Quốc tế có thể hỗ trợ tài chính và hậu cần để các thành viên gia đình tới Mỹ ngay thông qua hỗ trợ trước khi đi như lo giấy tờ đi lại, phương tiện đi lại, hỗ trợ tại sân bay và đưa trẻ em đi cùng. Còn với những ai không muốn nhận thị thực T ở Mỹ, chương trình sẽ đảm bảo hỗ trợ họ trở về an toàn và tái hòa nhập với cộng đồng. Sự trợ giúp này bao gồm hỗ trợ trước khi đi, giấy tờ đi lại, phương tiện đi lại và khi có thể, các đối tác của Tổ chức Di cư Quốc tế sẽ đón họ sau khi về tới nơi. Đối tác của các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ tái hòa nhập nhằm giảm nguy cơ nạn nhân bị buôn bán trở lại, như hỗ trợ chỗ ở tạm thời, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo và cấp những khoản trợ cấp nhỏ dành cho các hoạt động tạo thu nhập. Cho đến nay, chương trình này đã giúp 96 thành viên gia đình đoàn tụ với các nạn nhân buôn người ở Mỹ và 6 nạn nhân khác được hồi hương. Ngoài ra, hiện còn có 140 trường hợp đang được xử lý, chủ yếu là đoàn tụ gia đình tại Mỹ với người thân là nạn nhân buôn người.

E. Bộ Quốc phòng

Chương trình Đấu tranh chống Buôn người do Bộ Quốc phòng thực hiện chủ yếu là thực hiện trách nhiệm của các công chức trong Bộ chứ không cung cấp dịch vụ cho nạn nhân. Tuy nhiên, Tổng thanh tra của Bộ có một đường dây nóng (1-800-424-9098) để nạn nhân gọi điện cho các cơ quan có thể trợ giúp theo yêu cầu. Bên cạnh đó, Bộ Quốc phòng cũng đang lên danh sách các tổ chức phi chính phủ cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân buôn người ở những nước mà Bộ có đại diện thường trú. Danh sách này cung cấp cho các chỉ huy chiến dịch chống buôn người thông tin về các tổ chức tại khu vực họ phụ trách để nạn nhân có thể tìm đến khi cần giúp đỡ.

F. Bộ Lao động

Các trung tâm đào tạo nghề Bộ Lao động cung cấp dịch vụ đào tạo và việc làm - chủ yếu là hỗ trợ tìm việc, tư vấn nghề nghiệp và đào tạo tay nghề cho các nạn nhân buôn người. Các đơn vị nhận tài trợ ở bang và địa phương trực tiếp cung cấp những dịch vụ này cho các nạn nhân. Bộ Lao động không thu thập thông tin về việc các nạn nhân sẽ được nhận các dịch vụ và tận dụng các dịch vụ đó ở mức nào.

Công cụ Điện tử Quốc gia được sử dụng tại phòng thông tin của các trung tâm đào tạo hoặc được truy cập từ xa qua Internet, giúp nạn nhân có thể tự tìm được thông tin nghề nghiệp và lao động. Các công cụ này bao gồm: America’s Career InfoNet (ACINet); America’s Service Locator (ASL); Toll-Free Help Line (TFHL) và Mạng lưới Thông tin Ngành nghề (Occupational Information Network).

Chương trình Nghề nghiệp của Bộ Lao động hỗ trợ thanh niên đủ điều kiện lấy bằng trung học hoặc chứng chỉ GED và tổ chức các chương trình đào tạo phổ thông và kỹ năng trong cuộc sống. Mục tiêu của chương trình này là giúp người tham gia tăng khả năng được tuyển dụng, tăng tính độc lập và có được công việc có ý nghĩa hoặc được học lên cao hơn. Nạn nhân buôn người sẽ đủ điều kiện nếu họ đáp ứng được các yêu cầu của chương trình như có thu nhập thấp, là công dân Mỹ hoặc thường trú tại Mỹ, độ tuổi từ 16 đến 24 và có nhu cầu tiếp tục học thêm hoặc đào tạo phổ thông.

G. Bộ Giáo dục

Tháng 5/2006, Bộ Giáo dục cùng với Bộ Tư pháp, Bộ Y tế và Dịch vụ con người và Bộ An ninh nội địa xác nhận những nạn nhân buôn người đủ điều kiện nhận hỗ trợ tài chính liên bang dành cho sinh viên. Nỗ lực chung này đã tạo ra một quy trình xét duyệt mới cho phép các cá nhân có đủ điều kiện nộp đơn xin hỗ trợ của liên bang dành cho sinh viên. Ở Mỹ, chỉ những nạn nhân nào sẵn sàng giúp cơ quan thực thi pháp luật truy tố những kẻ buôn người mới có thể đủ điều kiện được hưởng những lợi ích của hầu hết các chương trình hỗ trợ liên bang và bang. Tại thời điểm công bố, có trên 900 cá nhân đăng ký xác nhận là nạn nhân buôn người ở Mỹ được chứng nhận là đủ điều kiện nhận hỗ trợ.

H. Công ty dịch vụ pháp lý

Công ty dịch vụ pháp lý là một công ty tư nhân, phi lợi nhuận được Quốc hội thành lập để tài trợ các chương trình trợ giúp pháp lý trên toàn quốc nhằm giúp đỡ những người có thu nhập thấp tiếp cận với hệ thống tư pháp dân sự. Theo điều 107 (b) của Đạo luật TVPA, Công ty Dịch vụ Pháp lý phải trợ giúp pháp lý cho nạn nhân buôn người, những người rất cần sự hỗ trợ về vấn đề nhập cư và các vấn đề khác. Công ty Dịch vụ Pháp lý đã ra văn bản hướng dẫn gửi tất cả các giám đốc chương trình của Công ty, trong đó nêu nghĩa vụ trợ giúp pháp lý đối với nạn nhân buôn người. Văn bản hướng dẫn này có tại địa chỉ: http://www. Rin.lsc.gov/Reference%20Materials//Refrmats/Progltrs/progltrs/05-2.htm. Trong năm tài chính 2006, 13 tổ chức nhận tài trợ của Công ty Dịch vụ Pháp lý đã trợ giúp 269 nạn nhân buôn người, tăng 128 người so với năm tài chính 2005.

I. Làm thế nào để cải thiện các dịch vụ dành cho nạn nhân

1. Tiếp tục hành động theo kiến nghị trong bản đánh giá tháng 9/2006

Để nạn nhân tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ của mình, Chính phủ Mỹ phải tiếp tục nâng cao khả năng xác định nạn nhân. Thực hiện theo các kiến nghị trong Bản đánh giá tháng 9/2006, Chính phủ Mỹ đã tăng cường khả năng tìm kiếm và giải cứu nạn nhân buôn người bằng việc tập trung vào các lĩnh vực công việc cụ thể hoặc những tổ chức đầu tiên có trách nhiệm, chẳng hạn những ngành trọng điểm, cộng đồng tín ngưỡng tôn giáo, cộng đồng giáo dục, khu vực y tế công cộng và ngành du lịch. Chính phủ Mỹ cũng hợp tác với các bang và địa phương, chẳng hạn như các tổ chức phi chính phủ, nhằm cải thiện việc điều phối các dịch vụ cho nạn nhân. Hoạt động hợp tác này bao gồm gia tăng nỗ lực tìm kiếm nạn nhân, theo dõi sự hỗ trợ mà nạn nhân nhận được từ Chính phủ Mỹ và các tổ chức nhận tài trợ từ Chính phủ Mỹ và điều phối hiệu quả hơn nỗ lực cung cấp dịch vụ cho nạn nhân.

  • Bộ Tư pháp chỉ đạo việc hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nhằm tăng cường năng lực của các nhà cung cấp dịch vụ “truyền thống” cho nạn nhân - chẳng hạn như các nhà cung cấp dịch vụ cho nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình hoặc bị cưỡng dâm - trong việc xác định và giải cứu các nạn nhân buôn người. Ví dụ, Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân lưu trữ thông tin buôn người dưới dạng băng video hoặc các ấn phẩm khác có thể phổ biến cho khu vực hỗ trợ nạn nhân rộng hơn. Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân đã phát hành một cuốn băng video đề cập sự cần thiết phải phối hợp giữa các nhà cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân buôn người với các nhà cung cấp dịch vụ nhập cư và các nhà chuyên môn khác để phục vụ nạn nhân buôn người tốt hơn. Đối tượng chủ yếu của cuốn phim là các nhà cung cấp dịch vụ truyền thống và mục đích của nó là giúp họ tăng cường kỹ năng và nguồn lực phục vụ các cá nhân từng bị buôn bán. Dự kiến cuốn băng sẽ được phát hành vào mùa thu 2007.
  • Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân cũng hợp tác với cộng đồng tín ngưỡng, tôn giáo. Năm 2006, Văn phòng đã thực hiện cuốn băng với tựa đề “Phản ứng của các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng đối với nạn nhân buôn người”, trong đó có một phần cụ thể về buôn người. Cuốn băng này có thể được dùng làm công cụ tuyên truyền và giáo dục khuyến khích tăng cường hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ truyền thống và các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng. Dự kiến cuốn bằng này sẽ được phát hành vào tháng 9/2007.
  • Phòng lương và giờ làm thuộc Bộ Lao động tiếp tục nhấn mạnh sự tuân thủ các bộ luật về tiêu chuẩn lao động như Đạo luật Tiêu chuẩn lao động công bằng và Đạo luật Bảo vệ Người lao động là dân nông nghiệp, làm theo thời vụ và dân Nhập cư trong các ngành trả lương thấp, sử dụng lao động là những người dễ bị tổn thương và có thể là nạn nhân buôn người. Nhân viên Phòng lương và giờ làm còn hướng dẫn cho nhiều đối tác và công chúng về nhiều khía cạnh của luật liên bang do Bộ Lao động thực hiện và về phạm vi thẩm quyền điều tra cho phép Phòng lương và giờ làm đóng góp tích cực vào các nỗ lực chống buôn người.

2. Kiến nghị cho năm tài chính 2007

Là một phần trong cách tiếp cận lấy nạn nhân làm trọng tâm trong cuộc chiến chống buôn người, Chính phủ Mỹ đã có những cải thiện đáng kể nỗ lực cung cấp dịch vụ cho nạn nhân. Điều quan trọng là những bước tiến này tiếp tục được thực hiện trong năm tài chính 2007. Dưới đây là một số lĩnh vực mà Chính phủ Mỹ có thể tập trung cải thiện:

  • Với sự gia tăng mạnh mẽ nỗ lực của Văn phòng các Chương trình hỗ trợ Tư pháp thông qua Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân và Cục Trợ giúp Pháp lý, điều quan trọng là phải có một chương trình hợp tác hỗ trợ kỹ thuật cho các nhóm đặc trách và các nhà cung cấp dịch vụ. Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân và Cục Trợ giúp Pháp lý đang xây dựng một chiến lược chung nhằm hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho các tổ chức nhận tài trợ xây dựng và thực hiện các quy định; xây dựng và duy trì hợp tác giữa các đối tác cộng đồng; thu thập số liệu đã được chuẩn hóa, chính xác và hữu ích. Một vài tổ chức nhận tài trợ còn yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật để hiểu được tính chất phức tạp của hoạt động buôn người; hỗ trợ điều tra và truy tố các vụ buôn người một cách hiệu quả nhất và cung cấp cho nạn nhân các dịch vụ toàn diện và lành mạnh về văn hóa. Vì các vụ buôn người hiếm khi xảy ra “thường xuyên” nên các tổ chức nhận tài trợ cũng cần tiếp cận với các chuyên gia cũng như có cơ hội để chia sẻ “bài học” và những biện pháp có thể áp dụng.
  • Bên cạnh đó, Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ đang nỗ lực chuyển thông tin về thị thực T từ cơ sở dữ liệu của nó sang hệ thống chính. Phương pháp tìm kiếm đặc điểm nạn nhân và vụ việc dễ dàng và đơn giản hơn sẽ rất có ích cho người làm nghiên cứu.

III. Những lợi ích nhập cư dành cho nạn nhân buôn người

A. Tiếp tục cư trú và hưởng quy chế không nhập cư T

Bộ An ninh Nội địa tham gia tích cực vào nỗ lực chống buôn người của chính phủ Mỹ. Bộ An ninh Nội địa điều tra các tội buôn người, hợp tác với các Văn phòng luật sư Mỹ và Bộ Tư pháp để truy tố những kẻ buôn người, bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân, và cho những người đủ điều kiện được hưởng những lợi ích nhập cư (như tiếp tục cư trú và hưởng quy chế không nhập cư). Sự kết hợp mối quan tâm bảo vệ nạn nhân với hoạt động thi hành luật xuất phát từ nhận thức rằng: để điều tra và truy tố có hiệu quả các tội buôn người, trước hết phải bảo vệ nạn nhân. Bảo vệ không chỉ có nghĩa là đảm bảo an toàn thể chất của nạn nhân, mà còn phải nhận thức được là những kẻ buôn người thường dùng luật nhập cư của Mỹ làm phương tiện đe dọa hoặc trả thù nạn nhân. Cục Hải quan và Nhập cư Mỹ và Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống buôn người bằng cách bảo vệ nạn nhân dưới hình thức cho tiếp tục cư trú và hưởng quy chế không nhập cư T.

Nạn nhân bị buôn bán ở Mỹ có đủ điều kiện nhận hai loại hỗ trợ nhập cư - Tiếp tục Cư trú và hưởng quy chế không nhập cư T, còn được gọi là thị thực T. Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế, Bộ An ninh Nội địa, trước đây gọi là Phòng Hỗ trợ Nhân đạo và người Tạm tha, là cơ quan có quyền cho phép nạn nhân được tiếp tục cư trú. Trong khi đó Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ cung cấp quy chế không nhập cư T. Bộ An ninh Nội địa gửi thông báo chấp thuận cho Vụ các Dịch vụ Y tế, cơ quan cấp giấy chứng nhận theo mục 107 (b) của Đạo luật TVPA như đã trình bày ở trên.

“Tiếp tục cư trú” là một quy chế tạm thời, do nhân viên thi hành luật liên bang đề nghị, cho phép ngoại kiều được cư trú hợp pháp tại Mỹ trong thời gian chờ đợi điều tra hoặc truy tố. Quy chế “tiếp tục cư trú” được cấp cho nạn nhân buôn người theo mục 107(c)(3) Đạo luật TVPA. Theo Phần 1103 C.F.R. 28, Bộ An ninh Nội địa có quyền cấp quy chế “tiếp tục cư trú” cho nạn nhân của các hình thức buôn người nghiêm trọng, những người có thể ra làm chứng trong quá trình điều tra và truy tố. Yêu cầu xin được tiếp tục cư trú được xem xét và, khi được chứng minh là đủ điều kiện, thì Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế sẽ chấp thuận theo thẩm quyền do Bộ trưởng An ninh Nội địa quy định.

Sau khi tiếp nhận bộ hồ sơ hoàn chỉnh, Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế sẽ xem xét việc cấp quy chế “tiếp tục cư trú.” Trong vòng 24 giờ, hồ sơ phê chuẩn sẽ được chuyển sang Trung tâm dịch vụ Vermount thuộc Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ để cơ quan này cấp giấy cho phép được làm việc và lập hồ sơ Đến/Đi I-94. Quy chế “tiếp tục cư trú” có hiệu lực trong thời hạn 1 năm, nhưng sau đó có thể gia hạn nếu việc điều tra chưa kết thúc.

Trong năm tài chính 2006, Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế đã nhận được 117 đơn xin cấp quy chế tiếp tục cư trú. Trong số này có 112 đơn được chấp thuận và 5 đơn bị các cơ quan thi hành luật liên bang rút lại do không có đủ bằng chứng cho thấy cá nhân đó là nạn nhân của hình thức buôn người nghiêm trọng như quy định của Đạo luật TVPA. Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế cũng nhận được 80 đơn xin gia hạn quy chế tiếp tục cư trú và tất cả đều được chấp nhận. Đa số đơn xin gia hạn đều liên quan đến một cuộc điều tra của Cục Hải quan và Nhập cư Mỹ tại Long Island về các nạn nhân người Pêru bị cưỡng ép lao động.

 

Số đơn xin cấp quy chế tiếp tục cư trú trong năm tài chính 2006
Số đơn được chấp thuận
Số đơn bị rút lại
Số đơn xin gia hạn quy chế tiếp tục cư trú
Số đơn xin gia hạn được chấp thuận

117

112

5

80

80

Các nước đại diện

Những nước có đông nạn nhân nhất
Các thành phố có nhiều đơn xin quy chế tiếp tục cư trú nhất

24

Mê-hi-cô, El Sanvador, và Hàn Quốc

Houston, Newark, và New York

Thông qua các nhóm Đặc trách chống Buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ, hơn 36.000 nhân viên thi hành luật và những người chắc chắn tiếp xúc với nạn nhân buôn người đã được huấn luyện xác định nạn nhân và hoạt động buôn người. Năm 2006, các nhóm Đặc trách chống buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ đã xác định được 962 người có khả năng là nạn nhân buôn người. 81 người trong số những nạn nhân này xin được tiếp tục cư trú.[4] Tổng số người có khả năng là nạn nhân được các nhóm đặc trách do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ xác định trong hai năm hoạt động đã lên tới 1.520 người, trong đó 234 người đã nhận được quy chế tiếp tục cư trú theo đề nghị của cơ quan thi hành luật liên bang.[5]

Nạn nhân cũng có thể xin Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ cấp quy chế không nhập cư T. Quy chế này dành cho người nước ngoài với những điều kiện sau: (1) là nạn nhân của một hình thức buôn người nghiêm trọng, (2) có mặt ở hoặc tại cảng vào Mỹ (như định nghĩa trong luật nhập cư), cảng Sa-moa, hoặc Khối thịnh vượng chung các đảo Bắc Mariana vì lý do buôn người, (3) đã đáp ứng yêu cầu hỗ trợ việc điều tra và truy tố hành động buôn người, hoặc dưới 18 tuổi, và (4) sẽ phải chịu cực khổ như bị tổn hại nghiêm trọng hoặc bất thường nếu bị trục xuất. Những nạn nhân được hưởng quy chế không nhập cư T đủ điều kiện được ở lại Mỹ 4 năm, và có thể được gia hạn nếu cơ quan thi hành luật đang điều tra hoặc truy tố hoạt động liên quan đến buôn người xác nhận rằng sự hiện diện của họ ở Mỹ là cần thiết để phục vụ quá trình điều tra hoặc truy tố. Sau 3 năm, những đối tượng được hưởng quy chế thị thực T đủ điều kiện để nộp đơn xin điều chỉnh quy chế để được cư trú hợp pháp vĩnh viễn theo những quy định của pháp luật. Xem bảng dưới đây để biết số lượng nộp đơn, những người được chấp thuận và những người không được cấp thị thực T trong năm tài chính 2006.

Những quy định thực hiện việc cấp thị thực T được ban hành năm 2002. Những quy định này bao hàm những yếu tố cơ bản, theo đó người nộp đơn phải chứng minh là mình đủ điều kiện được cấp quy chế không nhập cư T. Những yếu tố này còn quyết định thủ tục nộp đơn và hướng dẫn nhằm hỗ trợ quá trình nộp đơn. Theo luật, những quy định về thị thực T cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho nạn nhân của hình thức buôn người nghiêm trọng hiện đang có mặt ở Mỹ. Đơn xin thị thực T có vai trò như đơn tự kiến nghị (ví dụ, nạn nhân có thể nộp đơn trực tiếp lên Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ ). Tại Trung tâm Dịch vụ Vermont thuộc Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ, một đội ngũ thẩm phán tận tụy chuyên về vấn đề nạn nhân và hoạt động buôn người sẽ xét tất cả những đơn này.

Trong suốt 5 năm đầu tiên thực hiện, chương trình cấp thị thực T đã đạt được những tiến bộ cả về xem xét các trường hợp nộp đơn lẫn việc chuẩn bị của các luật sư và các tổ chức phi chính phủ khác trong việc hỗ trợ người nộp đơn xin thị thực T. Ngày càng ít đơn bị trả lại, và yêu cầu người nộp đơn cung cấp thêm bằng chứng, mặc dù trong một số hoàn cảnh đây vẫn là một vấn đề khiến việc giải quyết bị trì hoãn. Các quy định điều chỉnh chương trình thị thực T không cản trở những người đủ tiêu chuẩn nộp đơn xin thị thực. Trở ngại lớn nhất chính là việc nạn nhân không biết có hình thức hỗ trợ này. Trong khi Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ chỉ có thể thông tin về chương trình thị thực T đến những người có thể nạn nhân - thực chất những người này thường bị che giấu các nguồn thông tin về chương trình - thì việc nâng cao hiệu quả phối hợp các đường dây nóng của cơ quan và tiếp tục huấn luyện nhân viên thi hành luật các cấp để tư vấn cho các nạn nhân buôn người tiềm tàng sẽ giúp họ tăng cường tham gia chương trình.

Số người nộp đơn, số người được cấp, số người không được cấp thị thực T

 

Năm tài chính 2006
Năm tài chính 2005
Số nạn nhân

 

 

Nộp đơn
345
229
Được chấp nhận*
182
112
Bị từ chối**
52
213
Gia đình các nạn nhân

 

 

Nộp đơn
324
124
Được chấp nhận*
99
114
Bị từ chối**
43
18

* Một số trường hợp được cấp thị thực đã nộp đơn từ (các) năm tài chính trước
** Một số người nộp đơn bị từ chối hai lần (tức là nộp đơn lần thứ nhất bị từ chối, sau đó tiếp tục nộp đơn).

B. Cải thiện cung cấp hỗ trợ nhập cư

Chính phủ có thể áp dụng một số biện pháp để cải thiện việc cung cấp hỗ trợ nhập cư cho nạn nhân buôn người:

  • Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ liên tục cố gắng phát hiện tình trạng lạm dụng thủ tục cấp thị thực, đặc biệt là làm thị thực giả để buôn bán lao động, và báo cáo các vụ vi phạm lên Cục Hải quan và Nhập cư Mỹ và Bộ Lao động. Năng lực của Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ có thể nâng cao bằng cách tăng cường các hệ thống công nghệ thông tin giải quyết những vụ việc này, thêm vào hệ thống này dữ liệu về các hình thức buôn người.
  • Thông tin từ hồ sơ xin cấp thị thực T là dữ liệu được đưa vào cơ sở dữ liệu độc lập dùng riêng cho các trường hợp xin thị thực T. Cơ sở dữ liệu này có nhiều hạn chế, chẳng hạn như không có khả năng xác định số người được cấp thị thực có liên quan đến buôn bán lao động. Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ và chương trình thị thực T sẽ rất có lợi nếu thông tin xin cấp thị thực T được đưa vào hệ thống thông tin chính của Cục, vì như vậy thông tin sẽ đầy đủ hơn. Thông tin đầy đủ hơn sẽ giúp phát hiện những xu hướng hoặc những điểm giống nhau để phục vụ các cuộc điều tra khác hoặc sau này. Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ đang cố gắng chuyển thông tin xin cấp thị thực T từ cơ sở dữ liệu độc lập sang hệ thống thông tin chính của mình.

IV. Điều tra và truy tố hoạt động buôn người

A. Điều tra

Một số cơ quan liên bang tiến hành điều tra hoạt động buôn người, và đa số các vụ đều do nhân viên Cục Điều tra Liên bang và Cục Hải quan và Nhập cư giải quyết.

1. Cục Điều tra Liên bang

Các đặc vụ thuộc Phòng các quyền Dân sự tại trụ sở Cục Điều tra Liên bang và tại các văn phòng trên cả nước điều tra hoạt động buôn người ở Mỹ. Bên cạnh đó, nhân viên Cục Điều tra liên bang tại Bộ phận các quyền Dân sự còn phối hợp với nhân viên của Đơn vị chống tội phạm có tổ chức và tội ác chống lại trẻ em nhằm đảm bảo rằng các trường hợp ban đầu được xác định là buôn lậu, xâm hại trẻ em trên Internet, và du lịch mại dâm cũng được xác định là những yếu tố tiềm ẩn của hoạt động buôn người. Trong năm tài chính 2006, thông qua Sáng kiến chống buôn người và Sáng kiến Quốc gia về Bảo vệ trẻ em, Cục Điều tra Liên bang đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong điều tra hoạt động buôn người.

Theo Sáng kiến chống buôn người, bắt đầu từ năm tài chính 2005, văn phòng của Cục Điều tra Liên bang tại các địa phương -dựa trên đánh giá về mối đe dọa - xác định sự tồn tại và mức độ hoạt động buôn người tại khu vực họ quản lý, tham gia lực lượng đặc trách chống buôn người, thiết lập và duy trì quan hệ với các tổ chức phi chính phủ địa phương và các tổ chức cộng đồng, thực hiện điều tra hướng vào nạn nhân, và báo cáo những diễn biến vụ việc quan trọng lên Phòng các quyền Dân sự. Cho đến nay, Cục Điều tra Liên bang đã tham gia Lực lượng đặc trách chống buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ, và xây dựng 56 bản đánh giá về mối đe dọa trong Chương trình Quyền dân sự.

Điều tra hoạt động buôn người của Phòng các quyền Dân sự, Cục Điều tra Liên bang

Năm tài chính
Số vụ được làm sáng tỏ
Số cáo trạng/ Thông tin
Số người bị bắt
Số người bị kết án
2001
54
29
67
15
2002
58
26
65
15
2003
65
40
32
18
2004
86
32
16
22
2005
146
45
51
14
2006
126
97
142
70
Tổng số
535
269
373
154

* Những số liệu này khác với số liệu các vụ truy tố được liệt kê ở những phần khác trong báo cáo này, vì Cục Điều tra Liên bang không tham gia tất cả các cuộc điều tra buôn người.

Bên cạnh đó, Đơn vị chống tội xâm hại trẻ em của Cục Điều tra Liên bang tiếp tục đấu tranh chống các hoạt động mại dâm trẻ em tại Mỹ thông qua Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ trẻ em. Tháng 6/2003, Cục Điều tra Liên bang phối hợp với Phòng chống khiêu dâm và bóc lột trẻ em thuộc Cục Hình sự, Bộ tư pháp và Trung tâm Quốc gia về trẻ em mất tích và bị bóc lột thực hiện Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ Trẻ em nhằm giải quyết tình trạng gia tăng trẻ em bị bóc lột tình dục. Các cơ quan thi hành luật của bang và địa phương và các tổ chức phi chính phủ địa phương là những đối tác chủ yếu của các lực lượng đặc trách thực hiện Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ trẻ em ở những khu trung tâm đô thị. Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ trẻ em điều lực lượng đặc trách hoạt động tại các thành phố điểm trên toàn nước Mỹ để xác định nạn nhân, cung cấp những dịch vụ cần thiết và truy tố kẻ phạm tội. Tính đến tháng 9/2006, Sáng kiến này đã được triển khai tại 26 thành phố, với trọng tâm là vấn đề trẻ em bị bóc lột tình dục, và đã thành lập được 23 lực lượng đặc trách và nhóm công tác.

Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ trẻ em

Năm tài chính
Các cuộc điều tra
Số người bị bắt giữ
Số lượng cáo trạng
Số người bị kết án
2006
103
157
76
43
2005
72
387
44
45
2004
67
118
26
22
Tổng
242
662
146
110

Lực lượng đặc nhiệm Bảo vệ trẻ em và các nhóm làm việc hiện đang hoạt động ở những thành phố sau: Miami và Jacksonville, Florida; Toledo, Ohio; Las Vegas và Reno, Nevada; Dallas và Houston, Texas; Boston, Massachusetts; Atlantic City, New Jersey; San Juan, Puerto Rico; Phoenix, Arizona; Detroit, Michigan; San Francisco, Sacramento, và Los Angeles, California; Harrisburg, Pennsylvania; Honolulu, Hawaii; Denver, Colorado; Oklahoma City, Oklahoma; Chicago, Illinois; New York City, New York; Washington D.C; và Indianapolis, Indiana.

2. Cục Hải quan và Nhập cư

Cục Hải quan và Nhập cư cố gắng triệt phá các tổ chức tội phạm trong nước và quốc tế tham gia hoạt động buôn người bằng cách huy động tất cả đơn vị và các nguồn lực của Cục để thực thi luật pháp trên phạm vi toàn cầu. Trong Cục Hải quan và Nhập cư, việc giám sát thực hiện Đạo luật TVPA là trách nhiệm của Bộ phận chống buôn người, thuộc Văn phòng Điều tra. Trách nhiệm điều tra hoạt động buôn người thuộc về các văn phòng khu vực trong nước, Cục Hải quan và Nhập cư và các phòng tuỳ viên thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế ở nước ngoài. Văn phòng các Vấn đề Quốc tế và các văn phòng tuỳ viên còn đào tạo các nhân viên thi hành luật và quan chức chính phủ nước ngoài, và đào tạo từ xa cho các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế về hoạt động buôn người. Trách nhiệm đảm bảo hỗ trợ nạn nhân thuộc về gần 300 điều phối viên của Cục Hải quan và Nhập cư phụ trách vấn đề nạn nhân và nhân chứng làm việc tại Văn phòng Điều tra, Văn phòng Tạm giam và Di chuyển, và Cục Bảo vệ Liên bang. Đơn vị xác minh tài sản của Cục Hải quan và Nhập cư điều tra tài chính và tài sản của các tổ chức buôn người và tập trung điều tra những vụ cướp đoạt tài sản dân sự. Trung tâm Hỗ trợ Thi hành Luật thuộc Cục Hải quan và Nhập cư là trung tâm phụ trách thi hành luật trên toàn quốc và cung cấp thông tin kịp thời về quy chế và xác định ngoại kiều. Trung tâm Hỗ trợ Thi hành Luật tăng cường khả năng của Cục Hải quan và Nhập cư trong việc nhanh chóng bắt và giam giữ những kẻ có thể là tội phạm buôn người hoặc bị cáo buộc có vấn đề về nhập cư trong khi các cuộc điều tra đang được hoàn tất. Nếu phù hợp, nhân viên của Cục Hải quan và Nhập cư còn phối hợp điều tra với Phòng các quyền Dân sự của Bộ Tư pháp và Phòng chống khiêu dâm và bóc lột trẻ em.

Các vụ điều tra và bắt giữ của Cục Hải quan và Nhập cư

Năm tài chính
Các vụ bị phanh phui
Cáo trạng/
Thông tin
Số người bị bắt
Số người bị kết án
2004
216
118
251
74
2005
322
111
186
91
2006
299
130
184
102
Tổng số
837
359
621
267

Cục Hải quan và Nhập cư cũng tích cực tham gia điều tra hoạt động bóc lột tình dục trẻ em của các công dân Mỹ ở nước ngoài. Kể từ khi Đạo luật Bảo vệ được ban hành năm 2003, Cục Hải quan và Nhập cư đã tiến hành hơn 299 cuộc điều tra hoạt động du lịch mại dâm trẻ em. Trung tâm Tội phạm trên mạng của Cục chịu trách nhiệm giám sát và quản lý các cuộc điều tra về du lịch mại dâm trẻ em trên phạm vi toàn cầu. Trong năm tài chính 2006, 65 cuộc điều tra đã được tiến hành dẫn đến việc bắt giữ 19 cá nhân phạm tội tổ chức du lịch mại dâm trẻ em. Du lịch mại dâm trẻ em là một trong những vấn đề khó điều tra nhất. Nạn nhân là trẻ em thường đến từ những gia đình rất nghèo ở vùng nông thôn của những nước kém phát triển. Thường thì nhân viên của Cục Hải quan và Nhập cư phải mất nhiều ngày đường mới đến được nơi xảy ra vụ việc. Sau đó các nhà điều tra còn gặp phải khó khăn trong việc xác định nạn nhân và đưa các trẻ em trở lại Mỹ để đối chất với thủ phạm. Trước khi xét xử, nhiều trẻ em và gia đình lén quay trở lại quê hương, một số khác thì được các bị cáo giàu có “hối lộ.”

Ngoài những nỗ lực này, Cục Hải quan và Nhập cư còn thực hiện một sáng kiến toàn diện mang tên “Chiến dịch Bảo vệ Trẻ em khỏi bị lạm dụng tình dục” nhằm bảo vệ trẻ em trước những kẻ lạm dụng tình dục nước ngoài, khách du lịch mại dâm quốc tế, những kẻ viết sách khiêu dâm trẻ em trên mạng, và bọn buôn người. Từ năm 2003, kết quả của sáng kiến này là 10.000 người đã bị bắt, trung bình hơn 8 người bị bắt mỗi ngày. Năm 2006 có 2.381 người bị bắt. Chiến dịch này cũng có một phần hợp tác quốc tế quan trọng, theo đó đầu mối các vụ việc do các văn phòng của Cục ở trong nước nắm được chia sẻ với các văn phòng tuỳ viên ở nước ngoài và các cơ quan thi hành luật ở nước ngoài. Những đầu mối chia sẻ với các cơ quan nước ngoài đã đưa đến kết quả là hơn 1.000 người bị bắt giữ ở nước ngoài.

Những vụ bắt giữ bắt nguồn từ Chiến dịch Bảo vệ trẻ em trước những kẻ lạm dụng tình dục

Năm tài chính
Số vụ bắt giữ
2006
2.381
2005
2.380
Tổng số từ khi thực hiện chương trình
10.000+

3. Trung tâm chống buôn người và đưa người qua biên giới

Trung tâm chống buôn người và đưa người qua biên giới chính thức được thành lập theo mục 7202 Đạo luật Cải tổ công tác Tình báo và Đạo luật Ngăn chặn Khủng bố năm 2004 nhằm đạt được sự phối hợp rộng rãi hơn và hiệu quả toàn diện trong nỗ lực của chính phủ Mỹ chống đưa người qua biên giới, buôn người, và di chuyển bí mật của những kẻ khủng bố. Trung tâm cũng phối hợp hoạt động với các chính phủ nước ngoài nhằm đảm bảo nỗ lực này được thực thi trên toàn cầu. Trung tâm này là đối tác của Bộ Ngoại giao, Bộ An ninh Nội địa, Bộ Tư pháp, và cộng đồng tình báo Mỹ.

Khả năng biến thông tin tình báo liên quan thành hành động thi hành luật và tăng cường điều tra tội phạm buôn người của Trung tâm rất có giá trị đối với nỗ lực chống buôn người của chính phủ Mỹ. Năm 2006, Trung tâm hỗ trợ nỗ lực chống buôn người bằng cách xem xét các hệ thống tin tức tình báo, các đầu mối và thông tin được phân loại và không phân loại liên quan đến các vụ buôn người, các hình thức và xu hướng buôn người; hỗ trợ trong những trường hợp cụ thể; phổ biến thông tin đầu mối và tin tức tình báo cho các bộ phận phù hợp; hỗ trợ các đơn vị tình báo thi hành luật liên bang; phân tích thông tin tình báo nước ngoài; và xác định các mạng lưới và tổ chức buôn người toàn cầu.

Trung tâm cũng giữ vai trò điều hoà quan trọng giữa các cơ quan có chung thẩm quyền điều tra hoạt động buôn người. Ví dụ, năm 2006 Trung tâm đã xác định được một tổ chức buôn người quốc tế vì mục đích mại dâm ở Bờ Biển Đông và hiện cả Cục Điều tra Liên bang lẫn Cục Hải quan và Nhập cư đang điều tra. Trung tâm đã phát hiện ra sự chồng chéo này và thông báo cho từng cơ quan và kết quả là một cuộc phối hợp điều tra đã được thực hiện.

Trong năm tài chính 2006, Trung tâm đã hoàn thành nhiệm vụ mà Quốc hội uỷ thác với tư cách là cơ quan thông tin của chính phủ Mỹ về việc đưa người qua biên giới, buôn người, và khủng bố thông qua cung cấp 1.600 nguồn tin, 800 báo cáo được phân loại, 55 báo cáo tình báo trong nước, 14 đánh giá tình báo chiến lược mới (trong đó nhiều báo cáo ảnh hưởng lớn đến hoạt động buôn người) cho các cơ quan hữu quan, và hoàn tất bản đánh giá chung hai nước Mỹ - Ca-na-đa về hoạt động buôn người. Trong số những ấn phẩm của Trung tâm có một bản đánh giá quan trọng về buôn bán lao động là người di cư ở Mỹ. 
           
4. Hải quan và Biên phòng

Năm tài chính 2006, Cục Hải quan và Biên phòng Mỹ đã lập Văn phòng Ngăn chặn việc đưa người qua biên giới, vì nhận thức được mối quan hệ giữa vấn đề đưa người qua biên giới và buôn người mang tính toàn cầu. Hai vấn đề này ngày càng quan trọng ở cả góc độ bi kịch đối với con người lẫn tác động của chúng đối với an ninh quốc gia, chủ yếu liên quan đến vấn đề tội phạm, y tế và phúc lợi, và kiểm soát biên giới. Văn phòng mới này sẽ tạo ra một cơ cấu nhằm thể chế hoá việc chia sẻ thông tin tình báo giữa các đường dây của Cục Hải quan và Biên phòng về hoạt động đưa người qua biên giới và buôn người. Văn phòng ngăn chặn đưa người qua biên giới sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của mình trong việc xác định, phân tích, đánh giá, và đối phó với các mối đe doạ từ hoạt động đưa người qua biên giới và buôn người. Văn phòng cũng sẽ duy trì hợp tác chặt chẽ với các đối tác là các cơ quan tình báo và thi hành luật và dự kiến sẽ có đại diện thường trực tại Trung tâm chống buôn người và đưa người qua biên giới.

5. Bộ Quốc phòng

Cục Dịch vụ Điều tra Tội phạm, Bộ Quốc phòng và các Tổ chức Điều tra Tội phạm của Quân đội có nhiệm vụ điều tra các vụ cáo buộc buôn người liên quan đến nhân viên của Bộ Quốc phòng hoặc các nhà thầu Bộ Quốc phòng. Các đặc vụ của Cục Dịch vụ Điều tra Tội phạm hợp tác với các cơ quan thi hành luật liên bang, bang, và địa phương và các Tổ chức Điều tra Tội phạm của Quân đội để giải quyết các sự việc, nhưng gần đây không có báo cáo cụ thể nào về các vụ buôn người.

Bộ Quốc phòng đã thực hiện một số đánh giá hoặc thanh tra về hoạt động buôn người. Bộ Quốc phòng đã xác định được những vụ vi phạm và có biện pháp điều chỉnh hoặc thông báo cho các cơ quan hữu quan để có biện pháp giải quyết. Tổng chỉ huy các lực lượng đa quốc gia tại I-rắc (MNF-I) đã yêu cầu các nhà thầu tại I-rắc trả lại những hộ chiếu đã bị tịch thu một cách bất hợp pháp từ người lao động tại các căn cứ của Mỹ sau khi xác định rằng hành động đó vi phạm luật chống buôn người làm lao động khổ sai hoặc cưỡng ép lao động của Mỹ. Tổng thanh tra các lực lượng đa quốc gia tại I-rắc phát hiện ra các vụ vi phạm như thuê mướn trá hình, những mức phí quá cao mà các cơ quan tuyển lao động nước ngoài đưa ra khi thu hút lao động đến I-rắc, những điều kiện sống dưới mức trung bình sau khi người lao động đến, vi phạm luật nhập cư I-rắc, và không có thực hiện hoạt động “cảnh báo” bắt buộc về hoạt động buôn người tại các căn cứ của Mỹ.

Bộ Quốc phòng chỉ có thể truy tố các quân nhân với tội danh buôn người và một số nhà thầu dân sự ở nước ngoài theo sửa đổi mới đây của Quân luật. Bộ Quốc phòng chủ yếu dựa vào hệ thống tư pháp dân sự để truy tố các nhà thầu và các nhân viên dân sự của Bộ. Khi cần thiết, Bộ Quốc phòng sẽ hỗ trợ xét xử bất kỳ vụ buôn người nào do Bộ Tư pháp truy tố theo Đạo luật xét xử người có đặc quyền ngoại giao trong quân đội. 

6. Bộ Lao động

Trong những nỗ lực thi hành luật nhằm điều tra hoạt động buôn người có cả nỗ lực của Bộ Lao động, tiếp tục nhấn mạnh tuân thủ luật về các tiêu chuẩn lao động, như Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng và Đạo luật Bảo vệ người Lao động làm nông nghiệp thời vụ và di cư, trong những ngành có thu nhập thấp như sản xuất quần áo và nông nghiệp. Trách nhiệm thi hành luật dân sự về buôn người của Bộ Lao động thuộc về Phòng lương và giờ làm với sự hỗ trợ của Văn phòng Luật sư. Các nhà điều tra của Phòng lương và giờ làm phỏng vấn người lao động và đánh giá tình hình trong đó người lao động có thể có bị hăm dọa, đe dọa, hoặc bị khống chế. Các nhà điều tra của Phòng lương và giờ làm cũng kiểm tra sổ lương của người lao động và thanh tra nơi ở của lao động di cư tại các trang trại. Ngoài ra, Phòng lương và giờ làm còn phối hợp với các cơ quan thi hành luật khác nhằm đảm bảo sự bồi thường nhân danh nạn nhân buôn người. Những nhân viên thi hành luật hình sự thuộc Văn phòng Tổng thanh tra của Bộ Lao động hợp tác với các đối tác là Cục Điều tra Liên bang và Cục Hải quan và Nhập cư trong nhiều cuộc điều tra tội phạm, đặc biệt các cuộc điều tra liên quan đến các nhóm tội phạm có tổ chức.

B. Truy tố

Bộ phận Hình sự thuộc Phòng các quyền dân sự, hợp tác với các văn phòng luật sư trên toàn quốc, có trách nhiệm chủ yếu là truy tố các tội buôn người, ngoại trừ những vụ liên quan đến buôn bán trẻ em vì đây là lĩnh vực chuyên môn của Phòng chống khiêu dâm và bóc lột trẻ em.

Trong năm tài chính 2006, kết quả của những nỗ lực chống buôn người của Phòng các quyền dân sự là con số bị cáo kỷ lục bị buộc tội và kết án trong 1 năm, trong khi số vụ điều tra tăng hơn 20% trong năm tài chính 2005, được biểu thị trong các bảng dưới đây. Hơn 80% trong số bị cáo này bị buộc tội vi phạm Đạo luật TVPA và khoảng 2/3 số vụ truy tố có liên quan đến bóc lột và lạm dụng tình dục. Bộ phận Hình sự thuộc Phòng các quyền dân sự duy trì đường dây tố cáo với lực lượng đặc trách chống buôn người và bóc lột người lao động (1-888-428-7581) để nạn nhân tố cáo khi họ sẵn sàng báo cáo với cơ quan thi hành luật. Kể từ khi đưa vào hoạt động, hơn ¼ số vụ điều tra buôn người đã được bắt đầu từ những cuộc gọi như vậy và kết quả là 34 kẻ buôn người đã bị buộc tội.

Hai bảng dưới đây liệt kê số lượng bị cáo bị buộc tội, truy tố và kết án buôn người và vi phạm Đạo luật TVPA kể từ năm tài chính 2001. Những bị cáo bị buộc tội buôn người trong năm tài chính 2006 không nhất thiết là những bị cáo bị kết án trong năm tài chính 2006. (Những số liệu này không bao gồm các vụ truy tố buôn bán trẻ em và du lịch mại dâm trẻ em của Phòng chống khiêu dâm và bóc lột trẻ em).

 

Tất cả các vụ truy tố buôn người
Năm tài chính 2001
Năm tài chính 2002
Năm tài chính 2003
Năm tài chính 2004
Năm tài chính 2005
Năm tài chính 2006
Hồ sơ vụ việc

 

 

 

 

 

 

Lao động
6
3
2
3
9
10
Tình dục
4
7
8
23
26
22
Tổng
10
10
10
26
35
32
Số bị cáo bị buộc tội

 

 

 

 

 

 

Lao động
12
14
6
7
21
26
Tình dục
26
27
21
40
75
85
Tổng
38
41
27
47
96
111
Bị kết án

 

 

 

 

 

 

Lao động
8
5
5
3
10
38
Tình dục
15
23
16
30
25
60
Tổng
23
28
21
33
35
98

 

Số vụ truy tố theo Đạo luật TVPA
Năm tài chính 2001
Năm tài chính 2002
Năm tài chính 2003
Năm tài chính 2004
Năm tài chính 2005
Năm tài chính 2006
Số hồ sơ vụ việc

 

 

 

 

 

 

Lao động
3
2
3
1
8
10
Tình dục
2
5
7
9
19
12
Tổng
5
7
10
10
27
22
Số bị cáo bị buộc tội

 

 

 

 

 

 

Lao động
5
8
6
5
19
28
Tình dục
6
13
20
19
64
64
Tổng
11
21
26
24
83
92
Bị kết án

 

 

 

 

 

 

Lao động
2
0
5
0
7
30
Tình dục
3
6
13
14
19
49
Tổng
5
6
18
14
26
79

Ngoài những vụ buôn bán trên, kể từ khi thông qua Đạo luật Bảo vệ tháng 4/2003, tạo điều kiện nhằm tăng cường truy tố các vụ du lịch mại dâm trẻ em, đã có gần 55 bản cáo trạng/tố cáo các vụ du lịch mại dâm trẻ em và gần 36 trường hợp bị kết án.

C. Các bản án

Để đưa ra số liệu để quyết định các bản án, Cục số liệu thuộc Bộ Tư pháp xem xét cơ sở dữ liệu tội phạm của Văn phòng Hành chính các Toà án Mỹ nhằm đưa ra tính toán sơ bộ về thời hạn bản án trung bình đối với các vụ án đã xét xử hoàn tất trong năm tài chính 2006 liên quan đến tội danh buôn người theo điều 1581 (việc mướn người làm công nhật), 1583 (dụ dỗ làm nô lệ), 1584 (bán, cưỡng ép làm nô lệ), 1589 (cưỡng ép lao động), 1590 (buôn bán lao động làm công/nô lệ/nô lệ cưỡng bức/cưỡng ép lao động), 1591 (buôn bán trẻ em làm nô lệ tình dục hoặc dùng vũ lực, lừa gạt hoặc ép buộc), 1592 (làm giấy tờ giả phục vụ mục đích buôn người), và 1594 (những điều khoản chung) trong luật 18, Tổng Bộ luật Mỹ. Sự tính toán này khác với số liệu các vụ được đưa ra trong các bảng ở trên bởi vì cơ sở dữ liệu của Văn phòng Hành chính các Toà án Mỹ theo dõi các quy định liên quan đến một vụ ở toà án chứ không theo dõi những thực tế từng vụ việc. Kết quả là, việc tìm kiếm cơ sở dữ liệu của Văn phòng Hành chính các Toà án Mỹ không thể xác định được bản án về buôn người, trong đó các bị cáo nhận các tội danh không phải là buôn người mà là vi phạm quy định nhập cư hoặc làm giả thị thực. Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu của Văn phòng Hành chính các Toà án Mỹ chỉ sắp xếp 5 tội danh điển hình nhất, chứ không đề cập toàn bộ các cáo buộc.

Theo quy định Tổng chưởng lý phải báo cáo, trong số 37 bị cáo bị kết án vi phạm một trong những quy định trong Đạo luật TVPA có 35 bị cáo bị kết án tù và 2 bị cáo được hưởng án treo. Thời hạn tù trung bình đối với 35 bị cáo là 219 tháng với các mức án tù từ 9 đến 612 tháng. 6 bị cáo chịu mức án tù từ 1 đến 5 năm, 8 bị cáo chịu án tù từ 5 đến 10 năm, và 21 bị cáo chịu án tù trên 10 năm. Một bị cáo được hưởng án treo 48 tháng và một bị cáo khác hưởng án treo 60 tháng.

D. Làm thế nào để ước tính chính xác hơn số nạn nhân?

Số vụ điều tra và truy tố liên bang về tội buôn người đã tăng mạnh từ khi thông qua Đạo luật TVPA. Tuy nhiên, theo ghi nhận trong Bản đánh giá tháng 9/2005 và năm 2006, một số nhà quan sát cho rằng số vụ truy tố ở Mỹ không bằng con số ước tính trước đó về số nạn nhân có thể bị buôn bán ở Mỹ hàng năm. Khó khăn trong việc đưa ra những con số ước tính chính xác cho thấy những thách thức khi định lượng mức độ nạn nhân hoá trong một tội ác mà thủ phạm tìm mọi cách để che giấu. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ cần phải cố gắng ước tính chính xác hơn số nạn nhân bị buôn bán tại Mỹ, như vậy mới có thể đánh giá liệu nỗ lực chống buôn người có đạt được kết quả mong đợi hay không.

Chính phủ Mỹ ngày càng nhấn mạnh đến “nghiên cứu hành động”, hoặc nghiên cứu nhằm vào những vấn đề và các lĩnh vực thực hiện cụ thể. Tiểu ban Nghiên cứu buôn người của Nhóm Chính sách Cao cấp, do Bộ Tư pháp điều hành, đã cố gắng tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm bằng cách thu thập thông tin về tất cả các dự án nghiên cứu chống buôn người do Chính phủ tài trợ, được phân theo năm tài chính và theo đơn vị. Những dữ liệu được tổng hợp sẽ đảm bảo rằng các cơ quan của Mỹ biết rõ tất cả những dự án được tài trợ nghiên cứu về lĩnh vực này, đồng thời cho phép họ phân tích những lỗ hổng thông tin và những lĩnh vực trong đó vẫn cần phải có nghiên cứu hành động. Các công tố viên của Bộ Tư pháp đã ủng hộ nỗ lực nhằm tập trung vào nghiên cứu hành động, vì họ coi đây là một chìa khoá quan trọng giúp phát hiện nạn nhân buôn người. Bộ Tư pháp điều hành một Tiểu ban Chính sách Cao cấp về thống kê số liệu buôn người, nhằm cải thiện hệ thống thông tin của chính phủ Mỹ về hoạt động buôn người tại Mỹ, trong đó công khai những nghiên cứu liên quan đến buôn người. Bên cạnh đó, Viện Tư pháp Quốc gia đang tiếp tục nghiên cứu phục vụ đánh giá mức độ hoạt động buôn người bằng tận dụng phương pháp tuyên truyền trong cộng đồng. Hơn nữa, những nỗ lực nhằm xây dựng và thực hiện các phương pháp nghiên cứu để xác định liệu con số ước tính nạn nhân còn đúng hay không khi Mỹ muốn phát hiện loại tội phạm ngầm này.

E. Cần phải làm gì nữa để truy tố tội buôn người?

Số vụ điều tra và truy tố liên bang về hoạt động buôn người đã tăng mạnh kể từ khi thông qua Đạo luật TVPA. Trong 6 năm đầu thực hiện, số vụ truy tố của liên bang đã tăng gấp 3 lần trong giai đoạn 2004 - 2006 so với giai đoạn 2001-2003, trong khi số bị cáo bị buộc tội và kết án tăng hơn gấp đôi. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu thêm những lĩnh vực có thể gia tăng khả năng phát hiện, giải cứu nạn nhân và truy tố những kẻ buôn người. Ví dụ, cần tiến hành nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và phạm vi hoạt động của thế giới ngầm và những cửa ngõ các thị trường lao động có thể là nơi tập trung nạn nhân như thị trường lao động trong các ngành nông nghiệp, xây dựng và sản xuất, và ngành dịch vụ. Những nghiên cứu đó sẽ cho phép các nhà điều tra và các công tố viên thông báo cho lực lượng đặc trách địa phương. Những lực lượng này có thể chỉ định điều tra viên đánh giá loại thị trường lao động trong phạm vi thẩm quyền của mình, tìm ra kẻ điều hành, và xem xét liệu thị trường lao động này có tuân thủ luật pháp Mỹ hay không. Bằng cách tập trung nỗ lực nghiên cứu sâu hơn vào thu thập thông tin nhằm giúp các nhà điều tra và công tố viên hiểu được bản chất của hoạt động buôn người và cách tìm ra thêm nạn nhân, số vụ truy tố buôn người chắc chắn sẽ tăng lên.

V. Các chương trình quốc tế

A. Các chương trình quốc tế của Chính phủ Hoa Kỳ

Thông qua Bộ Ngoại giao, Cục Lao động Quốc tế của Bộ Lao động (ILAB) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Chính phủ Hoa Kỳ đã cung cấp nguồn hỗ trợ quốc tế rất lớn nhằm ngăn chặn tình trạng buôn người, bảo vệ nạn nhân và truy tố những kẻ buôn người ở nước ngoài. Trong năm tài chính 2006, Chính phủ Hoa Kỳ đã tài trợ 154 chương trình phòng chống buôn người trên thế giới, với tổng số vốn khoảng 74 triệu đô-la cho 70 quốc gia. Khoảng 11 triệu đô-la trong tổng số 74 triệu đô-la nêu trên là một phần trong Sáng kiến Chống buôn người của Tổng thống, tài trợ cho các dự án với tổng số vốn khoảng 50 triệu đô-la cho tám quốc gia trong năm tài chính 2004. Mặc dù các chương trình này sẽ tiếp tục được triển khai, song số vốn nêu trên đã giúp hoàn tất nghĩa vụ tài chính trong khuôn khổ của Sáng kiến Chống buôn người.

Khi tài trợ, Bộ Ngoại giao và USAID chủ yếu phân bổ nguồn vốn của chương trình cho các quốc gia đã được báo cáo hàng năm của Bộ Ngoại giao xác định cần tăng cường các nỗ lực chống buôn người, trong khi Bộ Lao động sử dụng Báo cáo Chống buôn người là một trong những tiêu chí để tài trợ.

TVPRA 2005 đã yêu cầu Bộ Lao động theo dõi và chống lao động cưỡng bức và lao động trẻ em ở nước ngoài. Mặc dù Bộ Lao động đã tiến hành nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực lao động trẻ em quốc tế kể từ năm 1995, song các quy định của luật về lao động cưỡng bức và buôn người lại đòi hỏi phải có những hoạt động mới. Trong năm tài chính 2006, Bộ Lao động đã bắt đầu thực hiện các nhiệm vụ này thông qua việc tài trợ một dự án nghiên cứu trị giá 300.000 đô-la về lao động cưỡng bức và lao động trẻ em trong sản xuất hàng hóa ở 61 quốc gia. Bộ Lao động cũng đã tài trợ 3.750.000 đô-la nhằm tăng cường năng lực cho các quốc gia nằm thu thập, phân tích và phổ biến dữ liệu về lao động trẻ em. Một phần trong tổng số vốn nêu trên sẽ tài trợ nghiên cứu về lao động cưỡng bức và lao động trẻ em để trả nợ ở bốn quốc gia được lựa chọn. Các cán bộ của Bộ Lao động cũng tiếp tục các hoạt động nghiên cứu về lao động trẻ em và thực hiện các nghiên cứu mới về lao động cưỡng bức và buôn người trên toàn thế giới.

Các ví dụ về dự án được tài trợ trong năm tài chính 2006 bao gồm:

  • G/TIP hỗ trợ World Learning tại Bê-nanh nhằm nâng cao nhận thức về những nguy cơ buôn bán trẻ em, xây dựng các cơ chế tại cộng đồng để xác định và bảo vệ những trẻ em dễ bị tổn thương, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan để chống lại nạn buôn bán trẻ em. Những năng lực phòng chống và xây dựng năng lực như vậy tại 8 địa phương đã cứu giúp 14 bé gái trước tình trạng buôn người.
  • Tại Cam-pu-chia, G/TthIP đã hỗ trợ những năng lực của World Vision nhằm nâng cao năng lực cho các tổ chức tôn giáo (FBO) hỗ trợ nạn nhân trẻ em của nạn buôn người. Thông qua việc đào tạo và tài trợ cho các FBO, một trung tâm đánh giá nhanh nạn nhân trẻ em đã được thành lập, đồng thời các chương trình chăm sóc dài hạn cho các nạn nhân trẻ em không thể quay trở về gia đình cũng được triển khai. Chương trình kéo dài 30 tháng này sẽ trực tiếp giúp đỡ 433 trẻ em thông qua việc cung cấp môi trường an toàn, liệu pháp chữa trị và tái hòa nhập cộng đồng.
  • Tại Cô-oét, Đại sứ quán Hoa Kỳ đã nhận được nguồn tài trợ của G/TIP để tổ chức chiến dịch nâng cao nhận thức của công chúng nhằm cảnh báo và bảo vệ công nhân nước ngoài trước tình trạng lao động cưỡng bức. Đại sứ quán đã in 500.000 cuốn sách nhỏ bằng chín ngôn ngữ, giảm thiểu khái quát luật pháp địa phương và người lao động có thể liên hệ với Đại sứ quán để giúp đỡ như thế nào. Các đại sứ quán Phi-lip-pin và Pakistan cũng tiếp nhận rất nhiều cuốn sách nhỏ nêu trên để phát cho công dân của họ.
  • G/TIP đã tài trợ cho ba cuộc tập huấn trong khu vực cho các quan chức thực thi pháp luật, biên phòng, công tố viên và thẩm phán tại Ca-ri-bê, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Các cuộc tập huấn đó nhấn mạnh tới việc cần thiết phải có sự phối hợp giữa các cơ quan và trong khu vực để điều tra chống buôn người và hướng dẫn các kỹ thuật xác định nạn nhân và thực tiễn tốt nhất để phối hợp với nạn nhân. Trên 100 học viên từ các cơ quan có chức năng giám sát đã được tập huấn. Sau đó, mỗi học viên trở về cơ quan của họ để tiến hành đào tạo và chia sẻ kiến thức với đồng nghiệp của họ.
  • Tại Cam-pu-chia và Ê-qua-đo, USAID đã hỗ trợ các chương trình thí điểm “để xây dựng các cơ sở chữa trị tại khu dân cư cho nạn nhân ở nước ngoài” theo các quy định trong TVPRA 2005. Các chương trình thí điểm sẽ (1) chuẩn hóa các cơ sở tạm lánh hiện tại chưa áp dụng các thực tiễn tốt nhất và (2) lập mô hình cho các tổ chức khác nhằm cải thiện các cơ sở tạm lánh và xây dựng nhà tạm lánh mới nếu cần thiết. Việc thực hiện các chương trình như vậy sẽ bắt đầu trong năm tài chính 2007.
  • Tại Mexico, USAID giúp soạn thảo Luật Phòng chống Buôn người tại tiểu bang Chihuahua và các tiểu bang khác của Mexico. Kể từ khi luật có hiệu lực, Tổng Chưởng lý tại Chihuahua đã ra hai cáo trạng về tội bóc lột tình dục trẻ em. Luật Phòng chống Buôn người đã giúp Chihuahua một công cụ hết sức cần thiết để điều tra và xét xử tội tooijn người.
  • PRM đã tài trợ cho IOM để hỗ trợ nạn nhân ở Nam Mỹ được hồi hương và tái hòa nhập. Các khoản hỗ trợ bao gồm hỗ trợ ăn ở và đi lại cho nạn nhân muốn hồi hương, và hỗ trợ một phần tái hòa nhập. Thông qua chương trình này, IOM đã giúp các nạn nhân và những người sống phụ thuộc ở Ác-hen-ti-na, Bolivia, Brazil, Columbia, Cộng hòa Dominica, Paraguay và Peru.
  • PRM đã tài trợ một dự án hiện đang được triển khai của IOM để giúp hồi hương và tái hòa nhập nạn nhân ở những quốc gia trong khu vực Mekông, cụ thể là Thái Lan, Cam-pu-chia, Lào, Việt Nam, My-an-ma và tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Sau một năm thực hiện, dự án này đã hỗ trợ cho nhiều nạn nhân là phụ nữ và trẻ em của Lào, Cam-pu-chia và My-an-ma bị buôn bán sang Thái Lan được hồi hương và tái hòa nhập.
  • PRM tài trợ một dự án của IOM để hỗ trợ hồi hương tự nguyện và tái hòa nhập tự nguyện cho trẻ em bị buôn bán sang Ghana để làm việc trong ngành thủy sản. IOM đã phối hợp với các đối tác để cung cấp hồ sơ của những trẻ em đã được xác định, đồng thời tư vấn, hỗ trợ đi lại, trở về gia đình và tái hòa nhập cộng đồng. IOM theo dõi những trẻ em này và gia đình họ để đảm bảo các chương trình giáo dục, tái hòa nhập và các khoản tín dụng được thực hiện đúng hướng. Dự án này cũng hỗ trợ và các hình thức tạp thu nhập khác nhau cho ngư dân và gia đình họ nhằm chấm dứt nạn buôn bán trẻ em.
  • Tại El Salvador, Bộ Lao động đã tài trợ giai đoạn II của Chương trình chấm dứt những hình thức bóc lột lao động trẻ em tồi tệ nhất. Chương trình này tập trung vào những trẻ em bị hoặc có nguy cơ bị buôn bán và bóc lột tình dục. Để nâng cao năng lực của nước này trong việc chống lại tình trạng bóc lột tình dục trẻ em, dự án đã hỗ trợ xây dựng một chương trình đào tạo cho các cán bộ của Tổng Cục Di dân (GDM) nhằm tăng cường hiểu biết về luật pháp và các công ước về phòng chống nạn buôn bán trẻ em. Các cuộc hội thảo và tập huấn đã được tổ chức cho các cán bộ của GDM, các đại biểu Quốc hội và các đối tượng chủ chốt khác. Các tài liệu giảng dạy tập trung vào nhóm đối tượng là trẻ em và vị thành niên có nguy cơ bị rủi ro đã được xây dựng và phổ biến rộng rãi. Dự án tiếp tục thúc đẩy việc hoàn thiện và sửa đổi bổ sung luật để chăm sóc cho nạn nhân. Dự án cũng theo dõi các vụ bóc lột tình dục trẻ em và thanh niên (CSEC) được đưa ra tòa trong toàn bộ tiến trình đó.
  • Bộ Lao động tài trợ giai đoạn II cho dự án Phòng chống Buôn bán và các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất tại Trung và Đông Âu. Dự án đã góp phần làm giảm tỷ lệ buôn bán trẻ em và những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất trong những lĩnh vực nóng (bóc lột tình dục, buôn bán rong, các hoạt động bất hợp pháp và nông nghiệp) thông qua việc tăng cường chính sách, pháp luật và thủ tục pháp lý; tăng cường các ủy ban tại địa phương để phòng chống buôn bán trẻ em; cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho nạn nhân và trẻ em có nguy cơ bị bóc lột; đồng thời xây dựng mạng lưới trao đổi thông tin trong khu vực.

B. Tăng cường hiệu quả của các chương trình quốc tế

USAID tăng cường quan tâm tới việc theo dõi và đánh giá các dự án phòng chống buôn người trong năm tài chính 2006. Chương trình đối tác có năng lực của USAID giúp nâng cao chuyên môn và tính bền vững của các tổ chức phi chính phủ đã tập huấn cho 25 đại diện của các tổ chức phi chính phủ của Ấn Độ và Bangladesh về kỹ năng đánh giá. USAID đã kết thúc việc đánh giá các dự án chống buôn người ở Albania, phân tích các bài học kinh nghiệm từ hoạt động chống buôn người ở In-đô-nê-xia và đánh giá kết quả đạt được từ chương trình tài trợ chống buôn người ở Cam-pu-chia. Năm 2007, USAID sẽ tiến hành nghiên cứu tài liệu về tất cả các hoạt động chống buôn người đã được tài trợ tại Châu Phi từ năm tài chính 2003 đến 2006 để tìm ra những biện pháp tốt nhất để áp dụng trong các chương trình trong tương lai.

C. Các vấn đê đa phương

G/TIP đã tăng cường tham gia các hoạt động đa phương trong năm tài chính 2006. Ví dụ, G/TIP đã tham dự một hội thảo của NATO mang tên “Thực hiện chính sách của NATO về phòng chống buôn người” tại Stockholm, Thụy Điển trong tháng 11/2005. Một đề xuất quan trọng của Hội thảo là bổ nhiệm một điều phối viên cao cấp để theo dõi việc thực hiện các nỗ lực chống buôn người của NATO. Kiến nghị này đã được các quốc gia thành viên của khối NATO thông qua trong tháng 11/2006. Tháng 7/2006, G/TIP và Văn phòng Điều phối viên phòng chống AIDS toàn cầu của Hoa Kỳ đã tham dự một hội nghị của Liên Hợp Quốc mang tên “Tham vấn kỹ thuật toàn cầu về HIV và mại dâm” nhằm phổ biến chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ về chống buôn người và các chương trình can thiệp và phòng chống HIV/AIDS. G/TIP đã tích cực hợp tác với cơ quan đại diện ngoại giao của Hoa Kỳ và các cơ quan của SPOG để đảm bảo kết quả thành công của hội nghị đầu tiên của Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) về buôn người. Các đề xuất được nêu trong hội nghị này đã trở thành cơ sở để các chính phủ trong khu vực phòng chống buôn người có hiệu quả. Cuối cùng, G/TIP đã đánh giá tiến độ của Liên Hợp Quốc trong việc xây dựng các chương trình cải cách quan trọng nhằm ngăn chặn đội ngũ gìn giữ hòa bình không tham gia bóc lột và lạm dụng tình dục phụ nữ và trẻ em trong các phái đoàn gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Việc đánh giá như vậy đã được đưa vào Báo cáo năm 2006 về tình hình buôn người. G/TIP đã gặp Vụ trưởng Vụ Gìn giữ Hòa bình của Liên Hợp Quốc để nêu rõ mong muốn của Chính phủ Hoa Kỳ buộc những người gìn giữ hòa bình trong lực lượng quân sự và dân sự phải chịu trách nhiệm về bất kỳ hành vi vi phạm nào có liên quan đến buôn người, bóc lột tình dục và lạm dụng tình dục trong khi làm nhiệm vụ.

VI. Đào tạo và tuyên truyền

A. Đào tạo thực thi pháp luật trong nước

1. Bộ Tư pháp

a. Văn phòng các Chương trình Tư pháp (OJP)

OJP đã tổ chức Hội nghị quốc gia lần thứ hai của Bộ Tư pháp về nạn buôn người tại thành phố New Orleans, bang Louisiana từ 3-5/10/2006. Hội nghị thu hút sự tham gia của các quan chức thuộc chính phủ Mỹ cùng với hơn 600 đại diện từ các cơ quan thực thi pháp luật, các tổ chức phi chính phủ và giới học giả. Hội nghị tập trung vào những vấn đề phức tạp, xoay quanh nạn buôn người như các chiến lược hợp tác nhằm giúp giảm và ngăn chặn nạn buôn người; nghiên cứu và thống kê; những nỗ lực cải thiện quá trình xác định nạn nhân và vô hiệu hóa các tổ chức buôn người; các biện pháp tăng cường đáp ứng nhu cầu của nạn nhân buôn người. Phát biểu tại hội nghị, Tổng Chưởng lý đã thông báo số tiền hỗ trợ thêm thông qua OJP đạt gần 8 triệu đô-la. Số tiền này dành cho các cơ quan thực thi pháp luật và các tổ chức dịch vụ dùng vào việc xác định và hỗ trợ nạn nhân buôn người, truy bắt và khởi tố những kẻ liên quan đến buôn người. Nguồn quỹ này cũng đã được sử dụng để thành lập thêm 10 đội đặc nhiệm chống buôn người như đã trình bày ở phần trên.

b. Cục Hỗ trợ Tư pháp (BJA)

Từ năm 2005, BJA đã hợp tác với Cơ quan cảnh sát cộng đồng (COPS) để tài trợ huấn luyện 113 giảng viên thực thi pháp luật thông qua Viện Cảnh sát Cộng đồng Khu vực (RCPI) của COPS. Cuối năm 2006 (giai đoạn báo cáo của BJA), những giảng viên này đã tổ chức tập huấn cho 3.359 cơ quan phi chính phủ, cơ quan thuộc chính phủ và cơ quan thực thi pháp luật theo chương trình tập huấn của BJA mang tên “Nạn buôn người ở Mỹ - Nâng cao nhận thức”.

Năm 2006, BJA đã tài trợ Viện nghiên cứu liên chính phủ (IIR) phát triển, tăng cường nguồn lực đào tạo để hỗ trợ việc thực thi pháp luật, nhân sự phụ trách truy tố và các nhà cung cấp dịch vụ trong quá trình giải quyết nạn buôn người. Trong đó sẽ xem xét lại chương trình đào tạo xây dựng năm 2004 và đầu năm 2005, bổ sung những thay đổi về luật pháp gần đây và dịch chương trình tập huấn sang tiếng Tây Ban Nha. IIR cũng sẽ phối hợp triển khai thêm một phần trong Luật Dân sự gắn với chương trình tập huấn về nạn buôn người ở Mỹ để giúp giải quyết những khó khăn ảnh hưởng đến công việc điều tra về buôn người và quá trình truy tố trong hệ thống tư pháp ở các nước Mỹ Latinh. Cuối cùng, IIR sẽ xác định, triển khai thêm hỗ trợ trong quá trình đào tạo, hướng tới những mối quan tâm đặc biệt từ điều tra, khởi tố cho đến các dịch vụ hỗ trợ nạn nhân.

c. Vụ Dân quyền

Trong năm tài chính 2006, các luật sư thuộc Vụ Dân quyền của Bộ Tư pháp đã thuyết trình 107 lần tại các sự kiện hay tại các buổi huấn luyện về vấn đề buôn người. Trong đó có trên 50 bài thuyết trình trước các quan chức thực thi pháp luật của địa phương, bang và liên bang; 31 bài thuyết trình trước thính giả quốc tế và 14 bài thuyết trình giáo dục.

Tháng 9 năm 2006, Vụ Dân quyền đã kết hợp với BJA thực hiện một chương trình truyền hình phát sóng toàn quốc trên Mạng Truyền hình Tư pháp (JTN) – một công cụ giáo dục từ xa có tính tương tác. Những chương trình truyền hình trực tiếp này (có phát lại) là một diễn đàn để các đơn vị đặc nhiệm chia sẻ và học hỏi lẫn nhau. Buổi phát sóng đầu tiên bao gồm các phần như giới thiệu tổng thể về tình trạng buôn người xét dưới góc độ pháp lý; đánh giá những chiến lược nổi trội trong công tác phát hiện và hành động với tội phạm buôn người; thảo luận nhóm có sự tham gia của lực lượng đặc nhiệm chống buôn người hiệu quả cao của Houston; và những hướng dẫn của OJP về công tác chuẩn bị nguồn vốn và quản lý một đơn vị đặc nhiệm. Chương trình cũng tạo cơ hội cho hàng trăm người tham gia đặt câu hỏi với ban huấn luyện trước và trong chương trình. Một tổ chức phi chính phủ có tham gia chương trình sau đó đã lập một danh sách để giúp các thành viên đặc nhiệm dễ dàng thông tin liên lạc với nhau. Sau buổi tập huấn, hai vụ buôn người đã được phát hiện tại những khu vực chưa từng xảy ra vụ buôn người nào trước đây.

d. Bộ phận chống tội phạm, Cơ quan chống lạm dụng bóc lột trẻ em (CEOS)

Tháng 7 năm 2006, CEOS tổ chức một khoá học cấp cao thường niên chống bóc lột trẻ em cho các uỷ viên công tố liên bang và các đặc vụ tại Trung tâm Pháp chế Quốc gia. Để bao quát tất cả các chủ đề về quá trình điều tra, truy tố tội phạm bóc lột trẻ em liên quan đến Internet, khoá học tổ chức huấn luyện về Sáng kiến quốc gia bảo vệ trẻ em (Innocence Lost National Initiative). Ngoài ra, CEOS còn kết hợp với Cục điều tra liên bang (FBI) và Trung tâm tìm kiếm trẻ em mất tích và bị bóc lột (NCMEC) để triển khai một hội thảo tập huấn chuyên sâu kéo dài một tuần. Hội thảo này tổ chức tại trụ sở CMEC và do CMEC tài trợ nhằm tập trung vào vấn đề điều tra, truy tố các vụ bóc lột tình dục trẻ em.

Chương trình tập huấn tại NCMEC này thu hút sự tham gia của các cơ quan thực thi pháp luật bang, liên bang, các công tố viên và các nhà cung cấp dịch vụ xã hội. Mặc dù chương trình tập huấn thí điểm đã được thực hiện trong năm 2003 nhưng đã có thêm 11 chương trình nữa gồm bốn chương trình năm 2004, ba chương trình năm 2005 và bốn chương trình năm 2006. Khoảng 600 cán bộ chủ chốt đã được tập huấn tính đến cuối năm 2006.

CEOS cũng cung cấp rất nhiều ấn phẩm cho các công tố viên trên cả nước như bản tin hàng quý được phát cho các văn phòng luật sư tại Mỹ. Bản tin này đăng tải những lời khuyên thực tế cũng như thông tin về những vấn đề pháp lý và vụ án gần đây nhất. CEOS cũng chuẩn bị ra bản tin định kỳ của luật sư Mỹ tập trung phản ánh tình trạng bóc lột tình dục trẻ em. Trong bản tin này, ba trong số 8 bài viết đăng trên số tháng 11/2006 do các luật sư của CEOS đề cập trực tiếp tập trung vào nạn buôn trẻ em vì mục đích tình dục: “Thành lập cơ quan xét xử liên bang về nạn mại dâm trẻ em và nạn du lịch tình dục”, “Thu thập chứng cứ từ nước ngoài về các vụ du lịch tình dục trẻ em” và “Cung cấp dịch vụ trợ giúp nạn nhân trẻ em mại dâm”. Ngoài ra, một bài viết đăng trên bản tin hàng quý có đoạn tóm tắt về vụ “Hoa Kỳ kiện Clark”, 435 F.3d 1100 (Toà án khu vực số 9, 2006). Trong trường hợp trên, Tòa phúc thẩm Mỹ xác nhận tính hợp hiến của 18 U.S.C. § 2423, theo đó công dân Mỹ sẽ phạm tội nếu dính líu đến quan hệ tình dục ở nước ngoài và thực hiện hành vi tình dục không hợp pháp với trẻ em. Toà án cho rằng luật không không vượt quá thẩm quyền của Quốc hội khi điều chỉnh thương mại ở nước ngoài hoặc và vi phạm Điều khoản về Bảo vệ tự do cá nhân.

2. Bộ Quốc phòng

Bộ Quốc phòng lập ra một chương trình tập huấn nâng cao ý thức chung về nạn buôn người và bắt buộc mọi thành viên thuộc quân đội và nhân viên dân sự trong Bộ phải tham gia. Các nhà thầu của Bộ Quốc phòng cũng có thể sử dụng chương trình này như một công cụ để tập huấn cho nhân viên của mình. Các phương thức lãnh đạo và thực thi pháp luật đang trong quá trình triển khai. Mục tiêu tổng quát của chương trình tập huấn là thay đổi thái độ quan điểm về vấn đề bóc lột tình dục và lao động cưỡng bức. Chương trình cũng nhằm cung cấp thông tin cho nhân viên Bộ Quốc phòng và các nhà thầu về tình hình tội phạm, nhân quyền và hậu quả của nạn buôn người.

3. Bộ An ninh Nội địa

a. Cơ quan thực thi pháp luật hải quan và nhập cư (ICE)

ICE tiếp tục tập trung thực hiện trách nhiệm theo luật của mình trong việc tập huấn nhân viên thông qua hoàn thành khóa học về nạn buôn người. Khóa học là một phần trong chương trình Đại học ảo của ICE, nhằm tập huấn cho tất cả các nhân viên trong ICE có thể gặp nạn buôn người. Ngoài những thông tin cơ bản về Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Buôn người, khóa học còn có những phần riêng dành cho các điều tra viên, điều phối viên giữa nạn nhân và nhân chứng, nhân viên trục xuất, nhân viên thi hành và giam giữ. Trong năm tài khóa 2006, 5.555 nhân viên thuộc Văn phòng Điều tra, Văn phòng phụ trách Trục xuất và Giam giữ và Cơ quan Bảo vệ Liên bang đã hoàn thành xuất sắc khóa học.

Trong năm tài khóa 2006, ICE đã thực hiện các chương trình tập huấn thường xuyên về buôn người cho các quan chức thực thi pháp luật, nhân viên lãnh sự, công tố viên, nhà cung cấp dịch vụ xã hội; tham gia và thuyết trình tại nhiều hội nghị, hội thảo về nạn buôn người. Các văn phòng trong nước của ICE còn cố gắng thực hiện thêm các đợt tập huấn tại hơn 330 văn phòng thực thi pháp luật trong nước.

b. Cơ quan Bảo vệ Biên giới và Hải quan (CBP)

Trong năm tài khóa 2006, CBP tiếp tục tổ chức tập huấn về cách làm thế nào để xác định và đối phó với các vụ buôn người cho tất cả nhân viên thực thi pháp luật mới nhận việc. Chương trình tập huấn đào tạo giúp họ cách xác định nạn nhân, thủ phạm buôn người và cung cấp thông tin phân loại visa (loại T dành cho đối tượng không phải là dân nhập cư) để cho phép nạn nhân có thể ở lại Mỹ hỗ trợ quá trình truy tố thủ phạm buôn người. Chương trình cũng nhằm bảo vệ nạn nhân tránh khỏi những khó khăn có thể gặp nếu bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ.

c. Cơ quan Nhập cư và Quốc tịch (CIS)

Cơ quan Nhập cư và Quốc tịch Mỹ tiếp tục tổ chức tập huấn nâng cao cho các nhân viên về cách xác định nạn nhân buôn người, các yêu cầu pháp lý để cung cấp cho nạn nhân thông tin hỗ trợ và dịch vụ. Các thẩm phán, nhân viên bảo vệ chống dẫn độ, nhân viên phụ trách thông tin nhập cư có visa loại T sẽ nhận những chỉ dẫn riêng thông qua hàng loạt khóa học tập huấn dành cho nhân viên của Cơ quan Nhập cư và Quốc tịch Mỹ cũng như các nhân viên thực thi pháp luật liên bang.

Trong năm tài khóa 2006, Cơ quan Nhập cư và Quốc tịch Mỹ đã tham gia vào một số buổi tập huấn do các cơ quan liên bang tổ chức để đào tạo nhà cung cấp dịch vụ và nhân viên thực thi pháp luật về hỗ trợ nhập cư cho nạn nhân. Buổi tập huấn gồm các yêu cầu để được cấp visa loại T, đào tạo về nạn buôn người và tiếp tục những hoạt động hiện tại. Cơ quan Nhập cư và Quốc tịch Mỹ đã tham gia một số buổi tập huấn như Hội thảo của Bộ An ninh Nội Địa Mỹ cho các nhân viên điều phối giữa nạn nhân và nhân chứng (có bài thuyết trình), Hội nghị Thường niên của Luật sư Nhập cư Mỹ về Luật Nhập cư và Mạng lưới Quốc gia Chấm dứt Bạo lực Phản đối Hội nghị Thượng đỉnh Xây dựng Năng lực cho Phụ nữ Nhập cư.

Ngoài ra, Cơ quan Nhập cư và Quốc tịch Mỹ còn tập huấn nâng cao cho các thẩm phán có visa loại T. Buổi tập huấn bao gồm đào tạo chủ yếu về nạn buôn người, điều kiện được cấp visa loại T, từ chối cấp visa, nguyên nhân buôn người xét về mặt tâm lý, truy tố tội phạm buôn người và nhận thức văn hóa.

4. Trung tâm chống Buôn lậu và Buôn người (HSTC)

Trong năm tài khóa 2006, HSTC đã thực hiện tập huấn về buôn người cho các quan chức thực thi pháp luật, công tố viên và những nhà cung cấp dịch vụ xã hội; tham gia và thuyết trình tại một số hội nghị, hội thảo về buôn người. Trong đó bao gồm một bài thuyết trình tổng quát tại Hội nghị Buôn người Quốc gia do Bộ Tư pháp tổ chức tại thành phố New Orleans, bang Louisiana. HSTC cũng tham gia buổi tập huấn về buôn người của các công tố viên địa phương, bang và liên bang tại NAC thuộc Bộ Tư pháp tổ chức tại Columbia, Nam Carolina. Ngoài ra, trong năm 2006 HSTC cũng tham gia giảng dạy khóa học hàng tháng cho các lãnh sự về phòng chống giả mạo. Khóa học này là một phần trong chương trình tập huấn thường kì của Trung tâm Tập huấn Ngoại giao Quốc gia của Bộ Ngoại giao. Các nhân viên lãnh sự được tập huấn cách nhận biết dấu hiệu buôn người và tìm kiếm các nguồn lực chính phủ sẵn có để hỗ trợ quá trình điều tra và truy tố.

HSTC đã cập nhật cuốn chỉ dẫn về chống nạn buôn người trong đó phân biệt giữa buôn lậu và buôn người. Đây được coi là tài liệu tập huấn đã được các cơ quan thực thi pháp luật Mỹ và nước ngoài thông qua. Trưởng luật sư của HSTC cũng đã soạn thảo một tài liệu về các công cụ thực thi pháp luật chống buôn người ở Hoa Kỳ và tài liệu này đã được đăng trên Tập san Tulane về Luật So sánh và Quốc tế vào mùa xuân năm 2006.

5. Bộ Giáo dục (DOE)

Cơ quan đảm bảo môi trường giáo dục an toàn và không ma túy của DOE đã thực hiện một buổi thuyết trình về nạn buôn người tại cuộc gặp với các quan chức phụ trách an ninh học đường và các giám đốc trung tâm đảm bảo an toàn học đường của bang vào tháng 10/2006 ở Chicago. Diễn đàn tạo cơ hội tiếp cận các quan chức phụ trách an ninh/an toàn của 36 trường lớn và giám đốc trung tâm đảm bảo an toàn học đường từ 14 bang để trao đổi về vấn đề nhận thức liên quan đến nạn buôn người và buôn trẻ em vì mục đích tình dục trong nước.

B. Đào tạo và tuyên truyền thi hành luật pháp quốc tế

1. Bộ Tư pháp

a. Vụ Dân quyền

Vụ Dân quyền tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật và tập huấn cho các quan chức nước ngoài cả trong và ngoài nước, hợp tác với chính phủ các nước để tìm và truy tố tội phạm buôn người. Xây dựng mối quan hệ với các quan chức nước ngoài là một việc quan trọng trong nỗ lực chống nạn buôn người của Bộ Tư pháp và những nhân viên có kinh nghiệm trong chống buôn người thường xuyên tham gia các buổi tập huấn và chiến lược với quan chức chủ chốt của chính phủ nước ngoài. Trong năm tài khóa 2006, cán bộ Vụ Dân quyền đã gặp gỡ với các quan chức từ Azerbaijan, Butan, Brazil, Bungari, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Kazakhstan, Mehico, Hà Lan, Ba Lan, Nga, Ả Rập Saudi, Thái Lan, Turkmenistan, Anh, Venezuela và Tổ chức các nước châu Mỹ.

Ngoài những nỗ lực này, cán bộ Vụ Dân quyền đã gặp gỡ các quan chức chủ chốt hoạt động chống nạn buôn người của chính phủ các nước bao gồm các nhà lập pháp, quan tòa, giám đốc cấp trung phụ trách thực hiện chính sách, luật sư tố tụng, điều tra viên và các tổ chức phi chính phủ. Trong đó bao gồm cả các buổi tập huấn và trao đổi thông tin về chiến lược hiệu quả thực thi pháp luật chống buôn người. Trong năm 2006, cán bộ Vụ Dân quyền đã tham gia các buổi tập huấn ở Georgia, Na Uy, Nga, Cộng hòa Séc và Ukraina. Vụ Dân quyền cũng tiếp tục chỉ định một trong số các công tố viên đến Colombia để hỗ trợ nước này đấu tranh chống nạn buôn người. Đáng chú ý, nhờ nỗ lực của một công tố viên thuộc Bộ Tư pháp hoạt động tại Nga với sự trợ giúp của một tổ chức phi chính phủ hợp tác chặt chẽ với quan chức Mỹ, một nạn nhân buôn người đã được giải cứu ở Florida còn thủ phạm đã bị bắt và truy tố.

Nằm trong khuôn khổ Sáng kiến Chống Buôn người 50 triệu USD của Tổng thống (đề cập ở Phần VII dưới đây), Bộ Tư pháp tiếp tục hỗ trợ Mehico. Nước này cũng đã ký thỏa thuận với Mỹ để hỗ trợ trao đổi thông tin tình báo và nỗ lực chống nạn buôn người ở khu vực Trung Mỹ, Mehico và Mỹ. Các công tố viên thuộc Vụ Dân quyền đã thực hiện nhiều chuyến công tác trong nước để gặp gỡ với những cơ quan thuộc chính phủ và phi chính phủ.

b. Văn phòng Phát triển Công tố Nước ngoài (OPDAT) và Chương trình Hỗ trợ Tập huấn Điều tra Tội phạm (ICITAP)

OPDAT dựa vào nguồn lực và chuyên môn của Bộ Tư pháp để tăng cường các cơ quan ngành tư pháp tội phạm nước ngoài và nâng cao quản lý tư pháp nước ngoài. Với nguồn hỗ trợ của Bộ Ngoại giao và Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ, OPDAT hỗ trợ các mục tiêu, ưu tiên thực thi pháp luật của chính phủ Mỹ bằng cách tìm đối tác nước ngoài để hợp tác toàn diện, hiệu quả hơn với Mỹ trong công cuộc đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia và khủng bố như nạn buôn người, khuyến khích cải cách ngành tư pháp và luật pháp ở những nước mà luật chưa đầy đủ, nâng cao kỹ năng cho các quan tòa và công tố viên đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước pháp quyền và quan tâm hơn nữa đến nhân quyền.

OPDAT hỗ trợ chương trình tập huấn và thực hiện các dự án phát triển cho các quan chức thực thi pháp luật ở nước ngoài nhằm tăng cường khả năng của các đối tác quốc tế trong phòng chống nạn buôn người; bảo vệ nhân chứng và khuyến khích họ tham gia vào quá trình điều tra, truy tố; điều tra và truy tố hiệu quả các vụ buôn người. OPDAT cũng phối hợp với các nước chủ nhà phát triển kỹ thuật thu thập bằng chứng để tìm ra các bằng chứng có thể sử dụng trong truy tố ở nước ngoài, gồm cả kỹ thuật do Bộ Tư pháp Mỹ đóng góp. OPDAT tiếp tục thực hiện cải cách pháp luật và soạn thảo luật về nạn buôn người để đảm bảo luật này coi nạn nhân là trọng tâm hỗ trợ và phù hợp với Nghị định Palermo của Công ước Tội phạm có tổ chức của Liên hợp quốc. OPDAT thường xuyên nhờ đến chuyên môn của các luật sư Bộ Tư pháp làm việc tại Vụ Dân quyền, Cơ quan chống lạm dụng trẻ em và các văn phòng luật sư Mỹ trong khâu thiết kế, thực hiện các chương trình tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật chống nạn buôn người ở nước ngoài. Khi thích hợp OPDAT phối hợp với thực hiện các chương trình về nạn buôn người với ICITAP.

Trong năm tài chính 2006, OPDAT đã thực hiện 56 chương trình chống nạn buôn người ở 21 nước gồm: Anbani, Acmenia, Azerbaijan, Bangladesh, Bosnia-Herzegovina, Bulgaria, Cộng hoà Séc, El Salvador, Georgia, Indonesia, Kazakhstan, Kosovo, Latvia, Macedonia, Moldova, Nigeria, Romania, Nga, Suriname, Ukraina và Zambia.

ICITAP tham gia vào cả chương trình tập huấn và tuyên truyền về phương pháp đấu tranh với nạn buôn người dành cho các quan chức thực thi pháp luật ở nước ngoài. Các hoạt động của ICITAP ở các nước dân chủ mới tập trung vào phát triển lực lượng cảnh sát và nâng cao năng lực của lực lượng hiện tại. Trong năm tài chính 2006, ICITAP đã tổ chức nhiều chương trình về nạn buôn người trên toàn thế giới.

Những hoạt động điển hình trong các chương trình của OPDAT và ICITAP gồm:

  • Trong năm tài chính 2006, OPDAT đã kết hợp với CEOS thuyết phục Nga tuân theo các quy chuẩn luật pháp quốc tế về sách báo khiêu dâm trẻ em đồng thời tăng cường nỗ lực thực thi pháp luật chống loại tội phạm này. Một nửa số sách báo khiêu dâm trẻ em đang lưu hành ở Mỹ có nguồn gốc từ Liên bang Xô Viết cũ. Nhiều tiến bộ đáng kể đã đạt được trong những vấn đề này, thể hiện trong thỏa thuận của Bộ Nội vụ Nga tham gia vào Lực lượng đặc nhiệm toàn cầu bảo vệ trẻ em của FBI. Đây là một lực lượng đặc nhiệm thực thi pháp luật đa quốc gia được thành lập để hỗ trợ quá trình điều tra liên quan đến sách báo khiêu dâm trẻ em. Bước tiếp theo sẽ là vận động sự sự hỗ trợ của chính quyền Tổng thống Nga.
  • OPDAT và ICITAP đã đồng tổ chức một chương trình ở Lake Ohrid, Macedonia, về tập huấn phương pháp xác định và hỗ trợ nạn nhân buôn người cho 40 cảnh sát khu vực biên giới của Bungari.
  • Anbani và Macedonia. Các chủ đề bao gồm giới thiệu tổng quát về xu hướng, đặc điểm, các tuyến vận chuyển người; kỹ thuật thẩm vấn và tăng cường hợp tác giữa cơ quan thực thi pháp luật với các tổ chức phi chính phủ. Mục đích chính của chương trình là khuyến khích hợp tác giữa các cơ quan tuần tra biên giới của ba nước.
  • OPDAT và ICITAP đã nhận được gần 1,5 triệu đô-la dành cho các hoạt động ở Tanzania nhằm hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn cho các cảnh sát, điều tra viên thuộc lực lượng cảnh sát, công tố viên thuộc lực lượng cảnh sát, nhân sự thuộc toà án, các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân, quan toà ở Dar es Salaam, Iringe và Mwanza trong thời gian hơn 2 năm.
  • Ở Anbani, Dự án chống buôn người và tội phạm có tổ chức của ICITAP tập trung chủ yếu vào điều tra buôn người, ngăn ngừa nạn buôn người thông qua thực thi pháp luật chống buôn người, hỗ trợ hậu cần và cung cấp thiết bị điện tử. Dự án quản lý biên giới chung/Chống nạn buôn người của ICITAP và Anbani lại tập trung vào nhân sự, sắp xếp nhân sự và thiết bị tại bến cảng; phát triển trung tâm và đào tạo chống buôn người; phát triển các đơn vị sử dụng và huấn luyện chó nghiệp vụ.

2. Bộ An ninh Nội địa

Một trong những hoạt động tập huấn quốc tế quan trọng nhất của ICE là tham gia vào Hội các học viện thực thi pháp luật quốc tế (ILEA) ở Băng Cốc, Budapet và châu Mỹ Latinh. ICE đã triển khai các hình thức tập huấn chống nạn buôn người vốn là một phần của chương trình tập huấn thường xuyên của những học viện này. Nhân viên của ICE đã tổ chức 9 buổi tập huấn về buôn người ở các học viện thuộc ILEA cho 429 nhân sự phụ trách thực thi pháp luật đến từ 43 nước. Hình thức tập huấn này gồm (1) phương pháp luận về điều tra các vụ buôn người, (2) các dấu hiệu nhận biết vụ buôn người, (3) các mạng lưới toàn cầu, (4) nói chuyện với nạn nhân, (5) dịch vụ hỗ trợ nạn nhân, và (6) phương pháp luận cho đội đặc nhiệm. Trung tâm ảo phòng chống tội phạm của ICE cũng tham gia vào các buổi tập huấn của ILEA tại Băng Cốc (Thái Lan) và Budapet (Hungari). Nhân viên của trung tâm đã cung cấp thông tin cho các nhân viên và quan chức thực thi pháp luật nước ngoài về đạo luật Bảo vệ năm 2003 đề cập đến việc công dân Mỹ du lịch nước ngoài để bóc lột tình dục trẻ em.

Ngoài ra, ICE còn tham gia vào một chiến dịch toàn cầu chống những kẻ lợi dụng trẻ em với tư cách là thành viên của ban điều hành và đại diện thực thi pháp luật Mỹ của Lực lượng đặc nhiệm toàn cầu ảo (VGT) – một mạng lưới các cơ quan thực thi pháp luật ở nhiều nước được thành lập để đấu tranh với việc lạm dụng trẻ em qua mạng. Các quan chức thực thi pháp luật, tổ chức phi chính phủ và đại diện khu vực tư nhân trên toàn thế giới chia sẻ những chiến lược nhằm giảm lạm dụng trẻ em qua mạng. VGT được thành lập năm 2003, là một mạng lưới thực thi pháp luật gồm Trung tâm tội phạm công nghệ cao Australia, Trung tâm bảo vệ trực tuyến và chống lạm dụng trẻ em của Anh, Cảnh sát hoàng gia Canada, ICE và Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế. VGT hoạt động trực tuyến 24 giờ mỗi ngày và 7 ngày trong tuần để đấu tranh với nạn bóc lột trẻ em.

Ngoài ra, trong năm tài chính 2006, Chương trình khách mời quốc tế của ICE đã thực hiện 50 buổi cung cấp thông tin cho 227 quan chức chính phủ và đại diện tổ chức phi chính phủ của 58 quốc gia. Chủ đề trong những buổi cung cấp thông tin đó bao gồm chiến lược điều tra về buôn người, hỗ trợ nhập cư, cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân buôn người ở Mỹ, phối hợp liên ngành để giải quyết các vụ buôn người và Chương trình hỗ trợ nhân chứng của ICE.

ICE cũng chủ động hỗ trợ chính phủ Mehico tăng cường năng lực thực thi pháp luật để đấu tranh với nạn buôn người. Nguồn tài trợ cho chương trình hoạt động kéo dài 2 năm của ICE là từ Sáng kiến chống nạn buôn người 50 triệu đô-la của Tổng thống. Chương trình bắt đầu từ tháng 11 năm 2005, ban điều phối chương trình này đặt tại thủ đô Mehico. Từ khi chương trình bắt đầu, ICE đã hợp tác với Cơ quan cảnh sát dự phòng Mehico (PFP) để thiết lập các đơn vị thực thi pháp luật tập trung vào nạn buôn người và hỗ trợ điều tra cho những đơn vị này. Cuối năm tài chính 2006, hai trong số những đơn vị đó đã chủ động điều tra các vụ buôn người. ICE đã triển khai Cơ quan tư pháp kỹ thuật số tại Mehico để đánh giá đơn vị phòng chống tội phạm ảo tại đây. Chính phủ Mehico dự định sẽ dùng kết quả đánh giá để tăng cường nỗ lực điều tra các vụ du lịch lạm dụng tình dục trẻ em.Trong năm tài chính 2006, ICE đã tập huấn về điều tra buôn người cho 360 nhân viên PFP, tập huấn cho 90 nhân viên phụ trách nhập cư Mehico và tham gia vào hội nghị buôn người ở Chiapas cùng với 200 đại diện của các chính quyền địa phương, bang và liên bang ở Mehico. Cuối cùng, để tiếp tục những nỗ lực tăng cường năng lực điều tra tội phạm buôn người toàn cầu, ICE đã triển khai một chiến lược chống buôn người (gọi tắt là ICE TIPS) và thông qua đó ICE sẽ xử lý các cá nhân và tổ chức tội phạm liên quan đến buôn người. ICE TIPS tập trung vào tuyên truyền, giáo dục về vai trò của ICE trong điều tra buôn người và khả năng đưa ra phương pháp kiểm tra năng lực, hợp tác với các cơ quan thực thi pháp luật và nhà cung cấp dịch vụ phi chính phủ khác như đội đặc nhiệm, đánh giá hoạt động để nâng cao nỗ lực của ICE.

3. Trung tâm chống buôn lậu và buôn người (HSTC)

Nhằm nỗ lực khuyến khích hợp tác xuyên biên giới giữa các quốc gia đối phó với nạn buôn người, HSTC đã phát triển quan hệ, cung cấp thông tin cho các quan chức thực thi pháp luật, công tố viên, cơ quan tình báo nước ngoài về những phương pháp điều tra và truy tố tội phạm buôn người hữu hiệu nhất. Trong năm tài chính 2006, HSTC đã tham gia vào rất nhiều hội nghị, chương trình tuyên truyền quốc tế và thường xuyên tổ chức tập huấn cho các quan chức nước ngoài. Những nỗ lực của Trung tâm trong tập huấn thực thi pháp luật chống nạn buôn người quốc tế năm tài chính 2006 được thể hiện qua các bài thuyết trình tại Hội nghị tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc, Lực lượng đặc nhiệm thực thi pháp luật song phương về nạn buôn người ở St. Petersburg (Nga); Hội nghị của Cơ quan phòng chống tội phạm và ma tuý của Liên hợp quốc (UNODC) liên quan đến Công ước Liên hợp quốc chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Hội nghị các quốc gia thuộc vành đai Thái Bình Dương; Hội nghị về tài liệu giả mạo và Hội nghị về nhập cư bất hợp pháp của Trung tâm thông tin, thảo luận, trao đổi về điểm chung về biên giới và nhập cư (CIREFI) do Mỹ, Canada và Liên minh châu Âu tổ chức; và Hội nghị chống giả mạo của Bộ Ngoại giao.

Ngoài ra, HSTC đã tổ chức tập huấn về nạn buôn người cho Cảnh sát liên bang Australia và Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL), gặp gỡ đại diện các bộ của Ả Rập Saudi để tập huấn nhằm giới thiệu những phương pháp hữu hiệu nhất để chấm dứt nạn buôn người. Một phần trong hoạt động hàng ngày của HSTC là phối hợp với chính phủ các nước để cải thiện trao đổi thông tin và phương tiện tăng cường điều tra tập thể thông qua Cơ quan mậu dịch biên giới Canada, Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế, Tổ chức cảnh sát hình sự châu Âu và Frontex. HSTC cũng đã gia nhập nhóm công tác của INTERPOL về nạn buôn phụ nữ nhằm bóc lộ tình dục và trở thành đơn vị liên lạc của INTERPOL tại Mỹ về vấn đề buôn người.

4. Bộ Ngoại giao

Với sự hỗ trợ của Cục Dân số, Tị nạn và Di dân (PRM), Tổ chức di cư quốc tế (IOM) đã triển khai một nhóm 7 mô hình chống nạn buôn người để đáp ứng nhu cầu thực tiễn, cung cấp tài liệu tập huấn cho các tổ chức phi chính phủ, quan chức chính phủ (gồm cả quan chức thực thi pháp luật) và những đơn vị khác có tham gia vào hoạt động chống buôn người trên toàn thế giới. Những mô hình này có thể chuyển giao nhanh với chi phí thấp và sẽ tăng cường kiến thức về những yếu tố quan trọng trong xây dựng một chiến lược toàn diện chống nạn buôn người. Loạt mô hình này giới thiệu những công việc cần thiết của một kế hoạch toàn diện chống buôn người và được dịch sang tiếng Anh, Tây Ban Nha và Pháp. Các đợt tập huấn về những mô hình này được triển khai thông qua các văn phòng của IOM trên toàn thế giới. Các chủ đề bao gồm chiến dịch tuyên truyền thông tin; giúp nạn nhân trở lại và tái hòa nhập cộng đồng; xây dựng năng lực; hợp tác và mở rộng mạng lưới; kỹ thuật xác định nạn nhân và tìm hiểu thông tin qua nạn nhân; hỗ trợ trực tiếp và vấn đề trẻ em. Những mô hình đào tạo này đã được sử dụng trong tập huấn chống nạn buôn người trên toàn thế giới như ở khu vực Trung và Nam Mỹ, Nam và Tây Phi, Đông Nam Á và Caribe.

C. Tuyên truyền cho các tổ chức phi chính phủ

Chính phủ Mỹ thường xuyên hợp tác với các tổ chức phi chính phủ để đưa các dịch vụ hỗ trợ trực tiếp đến nạn nhân và những người đang giúp tìm ra các vụ buôn người và nạn nhân buôn người. Những hoạt động tuyên truyền gồm thuyết trình trước các hiệp hội, nhóm trường đại học và các cơ quan địa phương. Tuyên truyền tập trung vào các vấn đề như quyền hạn xét xử đa quốc gia, hoạt động hợp tác, những vấn đề trong phân biệt buôn người và buôn lậu dân di cư. Sau đây sẽ là những ví dụ về nỗ lực của chính phủ Mỹ trong công tác tuyên truyền cho các cơ quan phi chính phủ trong năm tài khóa 2006.

  • Vụ Dân quyền đã thực hiện được nhiều chương trình tập huấn và tuyên truyền cho các tổ chức phi chính phủ. Các chuyên viên thuộc Vụ Dân quyền đã phát biểu tại trên 100 hội nghị mà phần lớn những hội nghị này đều có sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, đồng thời cũng tham gia vào các sự kiện do tổ chức phi chính phủ tài trợ như Hội nghị Quốc gia Mạng lưới Tự do
  • Trong suốt năm tài khóa 2006, Cơ quan theo dõi và chống nạn buôn người (G/TIP) đã tổ chức nhiều cuộc họp cung cấp thông tin cho các tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Washington với sự giúp đỡ của giám đốc Cơ quan. Trong năm tài khóa 2006, G/TIP đã tổ chức 5 hội nghị bàn tròn cung cấp thông tin về những nỗ lực đấu tranh chống nạn buôn người của chính phủ Mỹ cho các tổ chức phi chính phủ cộng đồng; một phiên thảo luận bàn tròn với nhà văn, nhà báo người Canada Victor Malarek; và một diễn đàn chủ đề nạn buôn người/sức khỏe cộng đồng phối hợp với bệnh viện đầu tiên dành cho bệnh nhân AIDS ở Nepal và Trung tâm phục hồi chức năng hòa bình.
  • Trong năm tài khóa 2005 và 2006, các văn phòng quốc tế của ICE đã phát triển mối quan hệ với ít nhất 43 tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực chống nạn buôn người ở hơn 20 quốc gia. ICE cũng đã tham dự và tập huấn tại những hội nghị, hội thảo trong nước thu hút được nhiều người tham gia thuộc các tổ chức phi chính phủ. Các văn phòng trong nước của ICE cũng đã nỗ lực tuyên truyền cho hơn 120 tổ chức phi chính phủ trong nước trong năm tài khóa 2006.
  • ICE đã gửi thư cho tất cả các văn phòng trong và ngoài nước hướng dẫn về chiến lược phòng chống nạn buôn người của ICE. Những văn phòng này được ủy quyền để tăng cường tổ chức tập huấn, tuyên truyền cho các cơ quan thực thi pháp luật trong nước và quốc tế, nội bang và liên bang cũng như các tổ chức phi chính phủ về các vấn đề: (1) vai trò, chuyên môn của ICE trong điều tra buôn người, (2) các hoạt động tiếp tục và (3) nhấn mạnh phương pháp lấy nạn nhân làm trung tâm dựa trên cơ sở xác định và giải cứu nạn nhân buôn người.

Trong năm tài khóa 2007, ICE sẽ tiến hành tập huấn trong nước và trong khu vực để đảm bảo nhân viên ICE và những bên tham gia phân biệt được sự khác nhau giữa buôn lậu người và buôn người đồng thời nhận biết được các dấu hiệu buôn người. Tập huấn tập trung vào công tác điều tra chủ động quy mô toàn cầu; quá trình xác định, tịch thu tiền và tải sản liên quan đến tội phạm. Công tác tuyên truyền trên thế giới sẽ tập trung vào nhận thức và sáng kiến nâng cao nỗ lực của chính phủ nước sở tại trong đấu tranh chống nạn buôn người ở các quốc gia xuất phát và trung chuyển buôn người. ICE cũng sẽ tổ chức hội thảo “Tập huấn Giảng viên” cho các đại diện ICE – những người sẽ tập huấn trong nước và trong khu vực. Một trong số những tài liệu tuyên truyền phân biệt buôn người và buôn lậu người là những tấm các có kích thước để vừa ví tiền bằng tiếng Anh, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Pháp và Nga. Những tấm các này cũng dạy cách xác định dấu hiệu nhận biết một vụ buôn người.

D. Chiến dịch nâng cao nhận thức công chúng và Tài trợ tuyên truyền về các dịch vụ nhân quyền của Bộ Y tế

1. Chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng: Giải cứu và Hồi phục

Năm tài khóa 2006 là năm thứ 3 thực hiện chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng của Bộ Y tế mang tên Giải cứu và Hồi phục. Chiến dịch này cố gắng giúp các cộng đồng xác định và hỗ trợ thêm nhiều nạn nhân buôn người để tất cả những ai bị cưỡng ép, lừa gạt bóc lột lao động sẽ có động lực và dũng cảm ra trình diện và được Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Buôn người bảo vệ. Trên cơ sở những nỗ lực năm trước, hoạt động của chiến dịch trong năm thứ 3 hướng tới những người trung gian – những người có nhiều khả năng tiếp xúc với nạn nhân như nhân viên thực thi pháp luật, nhà cung cấp dịch vụ xã hội, tổ chức dân tộc, nhân viên tòa án vị thành niên, tổ chức giáo dục và tổ chức hỗ trợ pháp lý. Chiến dịch cũng nhằm vào các hội từ thiện và công chúng nói chung.

a. Tài liệu phục vụ cho việc nâng cao nhận thức cộng đồng

Bộ Y tế đã tiếp tục phân phát nhiều tài liệu đa dạng nâng cao nhận thức cộng đồng về chiến dịch Giải cứu và Hồi phục gồm áp phích, sách giới thiệu thông tin, tờ thông tin cơ bản, các tờ chỉ dẫn cách xác định nạn nhân. Những tài liệu này được in bằng tiếng Anh, Ba Lan, Nga, Tây Ban Nha và Trung Quốc. Bộ Y tế cũng phân phát các áp phích tại Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam. Những tài liệu này cũng có thể được xem tại trang web của Bộ Y tế (www.acf.hh.gov/trafficking) hoặc đặt miễn phí.

Để nâng cao hiệu quả của trang web Giải cứu và Hồi phục (www.rescueandrestore.org), Công ty Lockheed Martin Aspen Systems, nhà thầu của Văn phòng tái định cư cho dân tị nạn đã nâng cấp trang web để bổ sung thêm dịch vụ thư điện tử bằng tiếng Anh, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Ba Lan và Nga. Phần Những câu hỏi thường gặp trên trang web cũng được đăng tải bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha.

b. Tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông

Công tác tuyên truyền qua phương tiện truyền thông trong năm tài khóa 2006 gồm các hoạt động như chủ động liên lạc, phản hồi yêu cầu thông tin của các cơ quan truyền thông lớn trong nước, theo dõi thông tin hàng ngày, tiếp tục cung cấp thêm thông tin cho phóng viên khi phù hợp để có thêm bài viết. Bộ Y tế đã tham gia viết bài và gửi thư phản hồi về những bài viết quan trọng với biên tập viên. Những cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Wade Horn và sau đó là Phó giám đốc phụ trách vấn đề gia đình và trẻ em cũng được khuyến khích phát thường kỳ trên sóng phát thanh. Bộ Y tế còn tăng cường hợp tác với Quỹ tài trợ Ricky Martin để nâng cao nhận thức về nạn buôn người trong những nước nói tiếng Anh và Tây Ban Nha. Năm tài khóa 2006 kết thúc bằng một buổi họp báo cấp cao thông báo tổ chức Hội nghị của Bộ Y tế về những nạn nhân sống sót của nạn buôn người vì mục đích tình dục vào 28/09/2006. Họp báo có sự tham gia của các nạn nhân, Tiến sĩ Horn, nữ đại biểu quốc hội Deborah Pryce và Ngài đại sứ John Miller - người sau này làm giám đốc văn phòng G/TIP của Bộ Ngoại giao. Họp báo với sự tham gia của hơn 100 người hoạt động phòng chống nạn buôn người đã nhấn mạnh đặc biệt đến nhu cầu của nạn nhân và các dịch vụ của Bộ Y tế.

c. Đường dây nóng tiếp nhận và chuyển thông tin

Một phần quan trọng trong chiến dịch là thiết lập được một đường dây nóng luôn sẵn sàng nhận và chuyển thông tin về nạn buôn người miễn phí 24 giờ một ngày và 7 ngày trong tuần. Trong năm tài khóa 2007, đường dây nóng này sẽ được đổi tên thành Trung tâm thông tin về nạn buôn người. Đường dây này sẽ hướng dẫn những người có thể trở thành nạn nhân buôn người về cách tìm nơi hỗ trợ, cung cấp thông tin về các tài liệu trong chiến dịch Giải cứu và Hồi phục cho người gọi đến, chỉ dẫn họ tìm đến những cơ quan địa phương, liên bang có liên quan để giải đáp những câu hỏi không liên quan đến buôn người đồng thời báo cáo Vụ Dân quyền về những trường hợp có khả năng là buôn người. Đường dây nóng có gần 13 nhân viên giải quyết khủng hoảng thông thạo hai thứ tiếng của Covenant House, New York – nhà thầu phụ của Công ty Lockheed Martin Aspen Systems. Tất các các cuộc gọi đến mà người nói không sử dụng tiếng Anh và Tây Ban Nha sẽ được chuyển đến đường dây của AT&T Language. Năm tài khóa 2006, đường dây nóng đã nhận được 2.670 cuộc gọi trong số đó 20% người gọi không nói tiếng Anh.

c. Phát triển quan hệ

Trong năm tài khóa 2006, Bộ Y tế đã ký 4 hợp đồng mới cho các đơn vị trung gian để tăng cường mối liên hệ cho chiến dịch quốc gia Giải cứu và Hồi phục, cung cấp dịch vụ và xây dựng nhận thức. Các hợp đồng gồm Liên minh Hành lang An toàn Song phương trị giá 597.117 đô-la; Xã hội Dân sự trị giá 348.032 đô-la; Trung tâm Hỗ trợ Quyền Dân nhập cư trị giá 666.668 đô-la và Chiến lược Thực hành trị giá 172.266 đô-la.

2. Tuyên truyền trên đường phố

Trong khi có nhiều tiến bộ đáng kể được xác nhận về công tác giải cứu và hồi phục nạn nhân buôn người, còn nhiều nạn nhân nữa cần đối tác của Bộ Y tế là các tổ chức phi chính phủ giúp đỡ thường xuyên và cung cấp các dịch vụ quan trọng. Những người đại diện thực hiện tuyên truyền trên đường phố của Bộ Y tế thường sử dụng kênh thông tin thông qua các nạn nhân để tìm sự đồng cảm từ những người dễ bị tổn thương. Phương thức hỗ trợ xây dựng niềm tin này thường có tác dụng xác định nạn nhân buôn người quốc tế và trong một số trường hợp còn truy tố được tội phạm buôn người. Cũng cần phải lưu ý rằng không phân biệt quốc tịch trong khi thực hiện tuyên truyền trên đường phố. Do đó số lượng người có thể trở thành nạn nhân được tìm thấy gồm cả công dân Mỹ và công dân nước ngoài.

Trong năm tài khóa 2006, các nạn nhân được tìm thấy theo cách này được phân theo các nhóm giai đoạn như sau:

  • Giai đoạn nghi ngờ: Dựa trên tìm hiểu, người đại diện nghi ngờ rằng một người có thể là nạn nhân buôn người.
  • Giai đoạn có khả năng: Người đại diện đã liên lạc với người đó, đang thiết lập mối quan hệ hoặc
  • Tạo dựng sự tin tưởng, cung cấp thông tin về buôn người, cảnh báo về nguy cơ trở thành nạn nhân và khuyến khích họ tìm kiếm tự do.
  • Điều tra: Người sắp trở thành nạn nhân đã được giải phóng, vụ việc đã được chuyển cho cơ quan thực thi pháp luật và người đó đang đợi cơ quan thực thi pháp luật điều tra sự việc.
  • Có hiệu lực: Cơ quan thực thi pháp luật đã hoàn thành điều tra, người được giải thoát trước khi trở thành nạn nhân đang nhận dịch vụ hỗ trợ, đang trong quá trình xác nhận và/hoặc xin visa loại T.
  • Xác nhận: Nạn nhân đã được xác nhận và/hoặc được cấp visa loại T
  • Biến mất/Chấm dứt giữa chừng: Người đại diện đã tiếp xúc với người đó qua xxx giai đoạn (nghi ngờ, có khả năng, lên kế hoạch, điều tra và có hiệu lực) nhưng người đó đã chấm dứt giữa chừng. (yêu cầu phải giải trình)

Trong năm tài khóa 2006, hơn 1.300 trường hợp bị nghi ngờ là nạn nhân buôn người đã được xác định thông qua hoạt động tuyên truyền trên đường phố. Ngoài ra những người thực hiện tuyên truyền đã tập huấn về xác định nạn nhân buôn người cho các cơ quan thực thi pháp luật, tổ chức cộng đồng, tổ chức tôn giáo và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

3. Liên minh trong vùng

Bộ Y tế tiếp tục hợp tác với các liên minh chống buôn người ở 17 khu vực gồm thành phố Atlanta, bang Georgia; thành phố Houston, bang Texas; Illinois; thành phố Las Vegas, bang Nevada; Long Island, thành phố New York; thành phố Los Angeles, bang California; thành phố Miami, bang Florida; thành phố Milwaukee, bang Wisconsin; Minnesota; thành phố Newark, bang New Jersey; thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania; thành phố Phoenix, bang Arizona; thành phố Portland, bang Oregon; thành phố St. Louis, bang Missouri; thành phố San Francisco, bang California; thành phố Seattle, bang Washington; và thành phố Tampa, bang Florida. Những liên minh này gồm cán bộ cơ quan thực thi pháp luật, nhà cung cấp dịch vụ xã hội, chuyên gia chăm sóc sức khỏe, lãnh đạo các tổ chức dân tộc và tổ chức tôn giáo. Mục tiêu của các liên minh này là nâng cao số nạn nhân buôn người được xác định, giúp đỡ thoát khỏi tình trạng nô lệ, được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ đạt tiêu chuẩn và được Bộ Y tế xác nhận. Nhờ đó họ có đủ điều kiện để hưởng các lợi ích và dịch vụ hỗ trợ. Song song với việc xác định và hỗ trợ nạn nhân, thành viên các liên minh còn dùng thông điệp của chiến dịch Giải cứu và Hồi phục để tuyên truyền về nạn buôn người cho người dân.

Bộ Y tế đã tập trung nỗ lực tuyên truyền cho các tổ chức y tế công cộng thông qua những hoạt động gồm tập huấn, tạo cơ hội phát biểu và tham gia hội nghị. Bộ Y tế đã tập huấn các nhân viên trong ngành dịch vụ y tế và xã hội ở Cơ quan Dịch vụ Con người Illinois (DHS) về vấn đề bạo lực gia đình, vô gia cư, thanh thiếu niên, dịch vụ dành cho dân tị nạn và nhập cư. Bộ đã phổ biến tài liệu tuyên truyền cho 122 Trung tâm Nguồn lực Cộng đồng Gia đình. Bộ cũng đã tập huấn cho các nhân viên tuyên truyền, người phụ trách tố tụng, điều phối viên khu vực chương trình kiểm tra sức khỏe dân tị nạn và 9 cơ quan y tế thuộc ngành y tế Illinois. 700 điều tra viên Cơ quan Gia đình và Trẻ em Illinois cũng đã được Bộ tập huấn bằng công nghệ đổi mới dựa trên trang web. Ngoài ra Bộ còn có cơ hội tuyên truyền qua các bài phát biểu tại Mạng lưới các thầy thuốc lâm sàng di cư (Migrant Clinicians Network) và Học viện Bác sĩ Gia đình của Mỹ. Mạng lưới chống buôn người đã được tổ chức phối hợp với Trung tâm Phòng chống và Kiểm sóat Dịch bệnh của Bộ Y tế.

E. Tuyên truyền cho chính phủ nước ngoài

Thông qua G/TIP, Bộ Ngoại giao đã đại diện cho nước Mỹ trong phong trào toàn cầu xóa bỏ hình thức nô lệ thời hiện đại. Bộ đã kết hợp với chính phủ các nước và tổ chức dân sự để đấu tranh chống buôn người trên toàn thế giới. Giám đốc cơ quan cũng chủ trì nhóm SPOG – một nhóm công tác liên ngành cấp cao chuyên điều phối các hoạt động nỗ lực của chính phủ Mỹ đấu tranh chống buôn người và giải quyết các vấn đề liên quan đến kế hoạch, chương trình, chính sách liên ngành.

G/TIP đã công bố Báo cáo Buôn người Thường niên vào tháng 6/2006 và tháng 6/2007. Báo cáo này là công cụ ngoại giao có ý nghĩa quan trọng của chính phủ Mỹ dùng để thu hút chính phủ các nước tham gia chống buôn người. Báo cáo cũng cung cấp những thông tin chi tiết về chính sách của Mỹ liên quan đến mại dâm, du lịch tình dục trẻ em, tuyển trẻ em đi lính, nô lệ cưỡng ép và tham nhũng nhằm minh chứng cho cam kết của Mỹ cải thiện hiệu quả giải quyết những tình trạng trên.

Các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin dày đặc về việc công bố Báo cáo buôn người năm 2006, từ tất cả các đầu báo lớn trong nước cho đến hàng trăm nguồn tin trong nước và quốc tế trên toàn cầu. Sự kiện công bố bản báo cáo này là nguồn thông tin của 495 bài viết đăng tải trên 315 cơ quan truyền thông tại 43 quốc gia. Ở một số quốc gia, đặc biệt những nước thuộc Loại 3 và Loại 2 cần theo dõi như Ấn Độ, Trung Quốc và Belize, thông tin về báo cáo này đã liên tục được đăng tải.

Theo Báo cáo Buôn người gần đây nhất, trong suốt giai đoạn làm báo cáo tháng 3/2006 và tháng 3/2007, có 21 quốc gia đã thông qua luật mới hoặc luật sửa đổi đấu tranh chống buôn người. Nhiều quốc gia cũng đã đạt được những tiến bộ trong chống nạn buôn người. Những điển hình thành công gồm:

  • Ba nước Georgia, Hungari và Slovenia lần đầu tiên đáp ứng được những tiêu chuẩn tối thiểu xoá bỏ nạn buôn người và được xếp vào Loại 1. Chính phủ ba nước này đã có những cam kết chính trị đấu tranh chống hình thức nô lệ thời hiện đại thông qua các chính sách và thực thi luật mạnh mẽ trong suốt giai đoạn báo cáo tháng 3/2006 và tháng 3/2007.
  • Bolivia, Brazil, Indonesia, Israel, Đài Loan, Peru, và Jamaica nằm trong số 10 nước được nâng từ Loại 2 cần theo dõi lên Loại 2 nhờ những nỗ lực đáng kể mới thể hiện. Belize được nâng từ Loại 3 lên Loại 2 trong thời gian một năm.
  • Chính phủ nước ngoài đã tăng cường nỗ lực đấu tranh chống buôn người theo như cam kết ngoại giao song phương. Ví dụ như chính phủ Brazil đã tiếp tục cam kết đối phó với lao động nô lệ ở khu vực Amazon, chính phủ Indonesia đã ban hành một bộ luật chung chống buôn người nhằm bảo vệ tất cả các nạn nhân gồm cả lao động di cư bị lừa đi lao động nước ngoài và rơi vào bẫy buôn người.

G/TIP cũng gặp gỡ chính phủ các nước thông qua việc tổ chức những buổi cung cấp thông tin thường xuyên cho các quan chức nước ngoài và du khách quốc tế ở Washington DC. Qua đó giúp họ cái nhìn sâu sắc về việc chính phủ Mỹ đang làm gì để đấu tranh chống buôn người ở Mỹ và trên thế giới. Chương trình khách mời quốc tế của Cục Văn hoá và Giáo dục thuộc Bộ Ngoại giao tài trợ cho một số nhóm khách mời đến Mỹ để chủ yếu tập trung vào tuyên truyền về đấu tranh chống buôn người. Thông thường, hoạt động đầu tiên của chương trình là các thành viên thuộc G/TIP cung cấp thông tin tổng quát về buôn người cho khách mời.

Năm 2006, G/TIP đã thực hiện 25 bài thuyết trình cho hơn 256 khách mời từ 50 quốc gia. Khách mời gồm từ những quan chức thực thi pháp luật cho đến điều phối viên chống buôn người và Bộ trưởng Bộ tư pháp bang Bavaria của Đức.

VII. Nhóm đặc trách liên ngành về vấn đề chống buôn người và Nhóm chính sách cao cấp của Tổng thống

Theo TVPA, Tổng thống Bush đã thành lập Lực lượng đặc nhiệm liên ngành chống buôn người (PITF) ngang cấp nội các theo Quyết định số 13257 vào tháng 2/2002 để điều phối các nỗ lực chống buôn người cấp liên bang. Trong năm tài chính 2006, PITF đã nhóm họp ngày 19/6/2006. Sáu thành viên nội các đã tham dự, và 12 cơ quan đã cử đại diện tham gia. Trong cuộc họp này, Lực lượng đặc nhiệm đã thông qua chính sách thống nhất về phòng chống HIV/AIDS và buôn người để thể hiện mức độ ưu tiên cao đối với hai vấn đề này. PITF cũng tập trung vào việc xác định nạn nhân, nghiên cứu và các phương pháp tăng cường hỗ trợ và tuyên truyền cho những nạn nhân là công dân Hoa Kỳ bị buôn bán ở trong nước.

SPOG báo cáo tới PITF và do giám đốc G/TIP điều hành. Quốc hội đã cho phép thành lập SPOG qua TVPRA 2003 để điều phối việc thực hiện TPVA trên thế giới và giải quyết các vấn đề chính sách giữa các cơ quan, viện trợ và lập kế hoạch. SPOG tổ chức các cuộc họp hàng quý với sự tham gia của các đại diện từ Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, DHS, HHS, Bộ Lao động, Bộ Quốc phòng, USAID, Văn phòng Giám đốc Tình báo Quốc gia, và Văn phòng Quản lý và Ngân sách. Hội đồng An ninh Quốc gia, Văn phòng Điều phối viên phòng chống AIDS toàn cầu của Hoa Kỳ và Bộ Giáo dục cũng tham gia các cuộc họp của SPOG.

Trong năm tài chính 2006, SPOG đã nhóm họp vào ngày 17/11, 16/2, 18/5 và 17/8. Thông qua các cuộc họp này và trong cả năm, các cơ quan tham gia SPOG đã chia sẻ thông tin về các chương trình và sáng kiến mới, đồng thời phối hợp thực hiện chính sách. Ví dụ, SPOG đã thông qua bản hướng dẫn tài trợ mới được cập nhật và tăng cường các thủ tục đánh giá chương trình SPOG. Các cơ quan tham gia SPOG phối hợp thực hiện một số nhiệm vụ mới được quy định trong TVPRA 2005. SPOG tiếp tục lấy ý kiến nhận xét của tất cả các cơ quan tham gia về đề xuất tài trợ cho các dự án chống buôn người nhằm đẩy mạnh sự phối hợp và tập trung vào cách lĩnh vực chính sách ưu tiên của Chính phủ Hoa Kỳ.

Năm tài chính 2006, SPOG đóng vai trò nổi bật trong việc xác định những cơ hội và thách thức trong quá trình phối hợp giữa các cơ quan. Ví dụ, Trưởng nhóm đã ủng hộ mạnh mẽ việc tăng cường tham gia của Bộ Giáo dục trong PITF và SPOG nâng cao nhận thức và xác định nạn nhân ngay trong các trường học. Ngoài ra, Trưởng nhóm SPOG đã yêu cầu Bộ Tư pháp chỉ đạo Tiểu ban Thống kê nạn nhân Hoa Kỳ để thu thập thông tin về buôn người tại Hoa Kỳ. Bốn Tiểu ban khác của SPOG về nghiên cứu, quan hệ công chúng, tài trợ và pháp chế tiếp tục gặp gỡ hoặc trao đổi qua cầu truyền hình thường xuyên trong năm.

Trong năm tài chính 2006, các cơ quan tham gia SPOG đã triển khai phần còn lại trong Sáng kiến chống buôn người có giá trị 50 triệu đô-la của Tổng thống, đồng thời tiếp tục thực hiện các dự án được tài trợ trong khuôn khổ Sáng kiến này. Những nỗ lực chung giữa các cơ quan như vậy đã giúp tài trợ cho tám quốc gia thông qua Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động, HHS, DHS và USAID: Brazil, am-pu-chia, Ấn Độ, In-đô-nê-xia, Mexico, Moldova, Sierra Leone, và Tanzania. Việc tài trợ như vậy đã giúp tập huấn cho các tổ chức phi chính phủ tại địa phương; huy động nguồn lực và đào tạo cho các đơn vị thực thi pháp luật (nếu có thể) nhằm xác định và cứu trợ nạn nhân; xây dựng nơi tạm lánh khẩn cấp, chữa trị, hồi phục chức năng và tái hòa nhập, đồng thời đào tạo cho những nạn nhân; tập huấn cho các thẩm phán và công tố viên nhằm truy tố và xét xử những kẻ buôn người. Nhiều dự án còn bao gồm cả phần truyền thông để giáo dục người dân về thực trạng và hậu quả nghiêm trọng của nạn buôn người và du lịch tình dục. Để có thêm thông tin về Sáng kiến với số vốn 50 triệu đô-la của Tổng thống, hãy truy cập vào trang web theo địa chỉ: http://www.state.gov/g/tip/rls/fs/2006.

VIII. Kiến nghị hành động

Để cứu trợ nạn nhân một cách hiệu quả và xóa bỏ nạn buôn người ở Hoa Kỳ và nước ngoài, Chính phủ Hoa Kỳ nhận thấy cần phải tiến hành những biện pháp sau đây:

  • Chính phủ Hoa Kỳ cần tiếp tục tập trung nghiên cứu các biện pháp điều tra và truy tố, cung cấp dữ liệu chính xác về các ngành, loại hình tổ chức và khu vực địa lý nơi thường xuyên phát hiện nạn nhân.
  • Chính phủ Hoa Kỳ cần tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ để phát huy tối đa hiệu quả của các dịch vụ, phát triển chương trình và phổ biến thông tin. Chính phủ Hoa Kỳ cần hợp tác với các tổ chức đa phương để chứng tỏ cam kết của Chính phủ Hoa Kỳ đối với việc phòng chống buôn người.
  • Chính phủ Hoa Kỳ cần đổi mới các chiến lược nâng cao nhận thức của công chúng nhằm hướng tới các chuyên gia, những người làm trong lĩnh vực pháp luật, cộng đồng giáo dục và các ngành kinh tế khác để có thể hỗ trợ nạn nhân tốt nhất và phòng chống buôn người.

IX. Kết luận

Như phần đánh giá này đã nêu, Chính phủ Hoa Kỳ cam kết phòng chống những hình thức nô lệ hiện đại hay còn gọi là buôn người. Trong bài phát biểu của mình ngày 27/6/2006 tại Trường Đại học Tel Aviv ở Israel, Tổng Chưởng lý Alberto Gonzales đã nhấn mạnh rằng “hầu như không có người nào không nhất trí cho rằng buôn người là một trong những tội phạm hình sự ghê tởm nhất. Nhưng những tội phạm như vậy lại xảy ra thường xuyên hơn chúng ta nghĩ. Cộng đồng quốc tế cần tái khẳng định cam kết hợp tác nhằm trấn áp các băng nhóm buôn người khi họ mua và bán người như nô lệ và hàng hóa”.

Chính phủ Kỳ hiện đang thực hiện nhiệm vụ của mình là quốc gia tiên phong trong cuộc chiến chống buôn người toàn cầu thông qua việc đảm bảo các nạn nhân có thể dễ dàng tiếp cận các dịch vụ quan trọng, tiếp tục nghiên cứu các biện pháp để xây dựng các chương trình hiệu quả hơn, tăng cường các nỗ lực quốc tế để phát hiện và truy tố các vụ buôn người, đồng thời tăng cường hợp tác với các chính phủ và các tổ chức tôn giáo nước ngoài để loại bỏ nạn buôn người trên thế giới. Chính phủ Hoa Kỳ có nhiều công cụ để có thể giải quyết nạn buôn người. TVPA được ban hành năm 2000 và điều kiện sẽ được gia hạn năm 2007 là cơ sở pháp lý cho Chính phủ Hoa Kỳ cung cấp các khoản hỗ trợ cần thiết cho nạn nhân trong khi đưa những kẻ gây tội ác ra trước ánh sáng công lý.

Với những nỗ lực bền bỉ để hỗ trợ nạn nhân và vạch trần nạn buôn người, cuộc chiến chống buôn người sẽ vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Hoa Kỳ để đảm bảo công bằng ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới.


[1] Số lượng không nhất thiết thể hiện các nạn nhân riêng rẽ. Một số nạn nhân được tính trong khi đang tiếp nhận dịch vụ với tư cách là những nạn nhân chưa được xác nhận và sau đó lại được tính khi tiếp nhận các dịch vụ với tư cách là nạn nhân đã được xác nhận.

[2] Nhóm đặc trách của quận Columbia và Nhóm đặc trách tại Hạt Harris ở Texas (Houston)

[3] Vì Văn phòng Nạn nhân không kiểm soát nạn nhân chưa được chứng nhận theo tên hay số liệu có thể nhận dạng nên con số này bao gồm cả nạn nhân chưa được chứng nhận, cùng một lúc nhận dịch vụ của nhiều nhóm do Văn phòng Nạn nhân tài trợ, khiến nạn nhân được tính hai lần. Gần đây Văn phòng Nạn nhân đã đề xuất sáng kiến xem xét số liệu nạn nhân buôn người do các tổ chức nhận hỗ trợ cung. Tính đến tháng 9/2007, việc kiểm tra vẫn đang được thực hiện. Khi Báo cáo Thường niên tháng 5/2006 được công bố, Văn phòng Nạn nhân cho rằng tổng số nạn nhân được phục vụ trong năm 2006 là 505 người và có 1651 nạn nhân được phục vụ từ khi chương trình bắt đầu. Việc kiểm tra số liệu đã cho thấy con số có thể thấp hơn một chút so với báo cáo trước đó. Khi có con số cơ bản chính xác, Văn phòng Nạn nhân sẽ làm việc cẩn thận với hệ thống thông tin dữ liệu của mình để đảm bào rằng Văn phòng nhận được những thông tin chính xác nhất từ các tổ chức nhận hỗ trợ.

[4] Tiếp tục cư trú là khái niệm rất dễ bị hiểu nhầm. Quy chế này được cấp để một nạn nhân nước ngoài có thể có mặt tại Mỹ trong quá trình điều tra tội danh và truy tố kẻ phạm tội. Do đó, bất cứ công dân Mỹ hay nạn nhân cư trú hợp pháp nào, những người có thể là nạn nhân buôn người, sẽ không cần phải tiếp tục hiện diện, và sẽ không được tính vào con số này; và những người có thể là nạn nhân từ chối phỏng vấn hoặc không trả lời trung thực trong cuộc phỏng vấn để xác định xem họ có phải là nạn nhân của một hình thức buôn người nghiêm trọng hay không, thường không nhận được quy chế tiếp tục cư trú nếu thiếu bằng chứng cho thấy họ là nạn nhân của một hình thức buôn người nghiêm trọng. Thêm vào đó, một số nạn nhân buôn người, những người trực tiếp nộp đơn xin thị thực T, có thể làm như vậy mà không nộp đơn xin quy chế tiếp tục cư trú. Đây là những nhân tố chính tác động đến việc chuyển từ tính toán số nạn nhân buôn người tiềm tàng sang tính toán số người được các cơ quan thực thi pháp luật thay mặt đệ đơn xin được tiếp tục cư trú.

[5] Những con số này do các nhóm đặc trách báo cáo trong năm tài chính, vì vậy có thể cần điều chỉnh về sau

lên đầu trang ^

Công cụ:

Printer_icon.gif In trang này



 

    Trang Web này được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quản lý.
    Chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung và tính bảo mật thông tin của các trang Web khác được liên kết đến.


Đại sứ quán Hoa Kỳ