jump over navigation bar
Embassy SealBộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Đại sứ quán Hoa Kỳ - Hanoi, Vietnam flag graphic
Thông tin cập nhật
 
  Trung tâm Thông tin Tư liệu Các dịch vụ của IRC Dịch vụ Reference Update Tư liệu dịch Kinh tế & Thương mại An ninh khu vực Các vấn đề toàn cầu Báo chí, truyền thông và công nghệ thông tin Chính trị, xã hội và văn hóa Mỹ Các chương trình trao đổi giáo dục Quan hệ Mỹ-Việt Góc Nghiên cứu Việt Nam-Hoa Kỳ Học tập ở Hoa Kỳ Cơ hội xin viện trợ/học bổng Các hoạt động dành cho công chúng

Các vấn đề toàn cầu

ĐÁNH GIÁ NỖ LỰC CHỐNG BUÔN NGƯỜI CỦA CHÍNH PHỦ MỸ, NĂM TÀI CHÍNH 2006

Tháng 9/2007

I. Giới thiệu

Buôn người là tội ác chống lại phẩm giá con người, trong đó con người, mà  nhiều người trong số họ là thanh thiếu niên và trẻ em, bị những kẻ tội phạm mua đi, bán lại và lạm dụng tình dục. Quốc gia chúng ta quyết tâm đấu tranh và chấm dứt hình thức nô lệ hiện đại này.
--
Tổng thống George W. Bush, tháng 1/2006

Buôn người xúc phạm đến thể xác, tinh thần và tâm hồn con người. Để tội ác ghê tởm này diễn ra ở một đất nước mà cả thế giới hướng tới như thành trì của tự do... là một sự mỉa mai và một tấn thảm kịch.
--Tổng chưởng lý Alberto Gonzales, tháng 10/2006

Thật đáng buồn khi buôn người là hình thức nô lệ hiện đại phổ biến. Mỹ là một trong những quốc gia đi đầu trong cuộc chiến chống lại loại tội ác ghê sợ này. Trọng tâm trong những nỗ lực của Chính phủ Mỹ là Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Buôn người năm 2000 (TVPA), Pub.L.106-386, ký ban hành thành luật ngày 28/10/2000. Đạo luật TVPA tăng cường ba khía cạnh trong hoạt động chống buôn người của Chính phủ Liên bang: bảo vệ, truy tố và ngăn chặn hoạt động buôn người. Đạo luật TVPA quy định hàng loạt biện pháp mới bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân buôn người; mở rộng các loại tội danh và tăng cường hình phạt cho điều tra viên và công tố viên liên bang truy lùng những kẻ buôn người; đồng thời mở rộng các hoạt động quốc tế của Chính phủ Mỹ ngăn chặn các trường hợp nạn nhân bị buôn bán.
Đạo luật TVPA đã được sửa đổi vào các năm 2003 (TVPRA 2003) và năm 2005 (TVPRA 2005). Mỗi lần sửa đổi, Quốc hội đều bổ sung thêm trách nhiệm chống buôn người của Chính phủ Mỹ, trong đó có việc sửa đổi các điều khoản trong luật hình sự liên bang; quy định về quyền dân sự mới cho phép nạn nhân kiện những kẻ buôn người trước tòa lưu động liên bang; các chương trình hỗ trợ nỗ lực thực thi luật pháp chống buôn người ở các bang và địa phương và mở rộng các chương trình hỗ trợ cho nạn nhân là công dân Mỹ hoặc ngoại kiều; thí điểm chương trình thiết lập các cơ sở lưu trú hồi phục nạn nhân, trong đó có chương trình dành cho đối tượng là trẻ vị thành niên; và quy định phạm vi đặc quyền ngoại giao của nhân viên Chính phủ Liên bang phạm các tội danh buôn người ở nước ngoài.
Đây là bản Đánh giá thứ năm nhằm phân tích hiệu quả thực tế các hoạt động chống buôn người của Chính phủ Mỹ. Các bản Đánh giá trước được đưa ra tháng 8/2003, tháng 6/2004, tháng 9/2005 và tháng 9/2006. Bản đánh giá này độc lập với Báo cáo hàng năm của Tổng chưởng lý trình Quốc hội về Nỗ lực chống buôn người của Chính phủ Mỹ vào tháng 5/2004, tháng 7/2005, tháng 6/2006 và tháng 5/2007. Các báo cáo này có trên website của Bộ Tư pháp tại địa chỉ http://www.usdoj.gov/olp/human_trafficking.htm. Bản đánh giá này cũng độc lập với Báo cáo hàng năm về nạn buôn người của Bộ Ngoại giao tại website http://www.state.gov/g/tip.
Trong bản Đánh giá tháng 9/2006, Chính phủ Mỹ đưa ra 4 kiến nghị nhằm tăng cường nỗ lực chống buôn người. Các phần tiếp theo của bản Đánh giá này đề cập đến những thành công của Chính phủ Mỹ, đánh giá tiến bộ thực hiện các kiến nghị của bản Đánh giá tháng 9/2006 và đề xuất biện pháp để Chính phủ Mỹ tăng cường nỗ lực chống buôn người. Như được trình bày chi tiết dưới đây, rất nhiều thành tựu của Chính phủ Mỹ trong năm tài khóa 2006 đạt được từ việc thực hiện các kiến nghị của bản Đánh giá tháng 9/2006:

Kiến nghị số 1: Chính phủ Mỹ, các đối tác cấp bang và địa phương, và các tổ chức phi chính phủ cần cải thiện việc điều phối các dịch vụ dành cho nạn nhân, bao gồm gia tăng nỗ lực tìm kiếm nạn nhân, tìm hiểu hỗ trợ mà họ nhận được từ Chính phủ Mỹ và các nhà tài trợ của Chính phủ, đồng thời điều phối nỗ lực cung cấp hiệu quả các dịch vụ cho nạn nhân.

Thành tựu trong năm tài chính 2006:

  • Cơ quan Dịch vụ Nhập cư và Công dân Mỹ đã cố gắng cung cấp hiệu quả hơn các dịch vụ dành cho nạn nhân bằng cách cập nhật danh sách các nhà cung cấp dịch vụ do Bộ Y tế và Dịch vụ Con người thực hiện, rồi phát cho nạn nhân sau khi được cấp thị thực T. Luật pháp quy định Cơ quan Dịch vụ Nhập cư và Công dân Mỹ phải cung cấp danh sách này cho những người nhận thị thực T và dựa vào sự điều phối của Bộ Y tế và Dịch vụ Con người để cập nhật danh sách.
  • Văn phòng Tái định cư Người tị nạn đã hợp đồng với Hội đồng các Giám mục Thiên chúa giáo Mỹ cung cấp các dịch vụ khẩn cấp tính theo đầu người cho nạn nhân buôn người trước khi họ được cấp chứng nhận. Trong năm đầu thực hiện chương trình, 361 nạn nhân buôn người đã được xác định và những người có thị thực T đã được tiếp nhận các dịch vụ này.
  • Bộ phận Hình sự thuộc Phòng các quyền Dân sự của Bộ Tư pháp đào tạo hàng trăm công tố viên và điều tra viên theo phương pháp lấy nạn nhân làm trọng tâm trong điều tra các tội buôn người, nhấn mạnh sự cần thiết phải cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân buôn người.

Kiến nghị số 2: Chính phủ Mỹ cần tăng cường nỗ lực giám sát và chống buôn bán lao động cả trong nước và quốc tế, đặc biệt theo quy định mới trong Đạo luật TVPRA năm 2005 về cưỡng ép lao động và lao động trẻ em.

Thành tựu trong năm tài chính 2006:

  • Phòng Dân quyền tiếp tục đẩy mạnh hoạt động điều tra và truy tố các vụ cưỡng ép lao động, từ các trường hợp nạn nhân đơn lẻ là người giúp việc gia đình đến các vụ lớn với nhiều nạn nhân như vụ giải cứu gần 100 phụ nữ Trung Phi bị ép làm việc trong các nhà hàng, quán ba và những quán rượu nhỏ xung quanh Houston, bang Texas. Phòng Dân quyền tăng cường hợp tác với Bộ Lao động điều tra và truy tố các vụ cưỡng ép lao động. Ví dụ, các công tố viên của Phòng đã tham khảo các chuyên gia của Bộ Lao động để xác định các vụ buôn bán lao động, làm chứng tại tòa, và tính toán khoản tiền bồi thường trong các vụ cưỡng ép lao động.
  • Trong năm tài khóa 2006, Phòng Lương và giờ làm của Bộ Lao động tăng cường tham gia vào các nhóm đặc trách chống buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ. Về các nhóm đặc trách này, chúng tôi sẽ đề cập chi tiết hơn ở phần sau. Phòng Lương và giờ làm hiện tham gia 36/42 nhóm đặc trách. Với tư cách là thành viên của nhóm đặc trách, Phòng này nhấn mạnh việc tuân thủ các luật về tiêu chuẩn lao động trong các ngành công nghiệp trả lương thấp thuê nhân công là những người dễ bị tổn thương và có khả năng bị buôn bán. Các điều tra viên của Phòng phỏng vấn người lao động, xem xét bảng lương và điều tra trường hợp của người lao động nông nghiệp di cư.
  • Trong năm tài khóa 2006, Chính phủ Mỹ đã tài trợ nhiều dự án quốc tế chống buôn bán và cưỡng ép lao động. Bộ phận phụ trách các Chương trình Quốc tế thuộc Phòng Giám sát và Đấu tranh chống Buôn người của Bộ Ngoại giao (G/TIP) đã hỗ trợ các dự án với trọng tâm cụ thể là tình trạng cưỡng ép lao động ở Trung Đông, Nam Á và Đông Á. Ví dụ, G/TIP tài trợ một dự án nâng cao cảnh giác của người dân Kuwait nhằm cảnh báo và bảo vệ người lao động nước ngoài trước các vụ cưỡng ép lao động. G/TIP cũng tài trợ chương trình Giải phóng Nô lệ ở Ấn Độ nhằm giải cứu và phục hồi các nạn nhân là trẻ em bị ép buộc lao động, đồng thời trang bị cho cộng đồng những kiến thức và biện pháp để bảo vệ trẻ em tốt hơn. G/TIP còn kêu gọi thực hiện các dự án nghiên cứu về buôn bán nam giới để cưỡng ép lao động, với các dự án ở Đông và Nam Phi, Séc-bi-a và Phi-líp-pin sẽ nhận được tài trợ vào cuối năm tài khóa 2007.

Kiến nghị số 3: Chính phủ Mỹ cần tiếp tục nghiên cứu để thu thập thông tin chính xác hơn, ước tính số nạn nhân buôn người ở Mỹ, nhưng cần tập trung vào các “nghiên cứu hành động” để tăng cường khả năng chống buôn người của Chính phủ. Các nghiên cứu sâu hơn phải phục vụ mục tiêu tăng cường hiểu biết của chúng ta về bản chất và phạm vi hoạt động buôn người ở Mỹ và khả năng giải cứu nạn nhân và truy tố những kẻ buôn người.

Những thành tựu của năm tài chính 2006:

  • Trung tâm chống buôn người và đưa người qua biên giới đã chuẩn bị một số đánh giá và nghiên cứu chiến lược nhằm giúp các cơ quan xác định phân bổ các nguồn lực và sử dụng các công cụ chống buôn người. Trung tâm chống buôn người và đưa người qua biên giới còn cập nhật tài liệu hướng dẫn chống buôn người. Trong năm tài khóa 2006, Trung tâm chống Buôn người và đưa người qua biên giới hoạt động với tư cách là cơ quan của Chính phủ có nhiệm vụ sàng lọc thông tin buôn người và du lịch trái phép và đã soạn nhiều bức điện, báo cáo và đánh giá.
  • Tiểu ban Nghiên cứu Buôn người của Nhóm Chính sách cao cấp, Bộ Ngoại giao có mục tiêu tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm thông qua thu thập thông tin về tất cả các dự án nghiên cứu chống buôn người do Chính phủ tài trợ được phân bổ theo năm tài khóa và theo đơn vị. Các số liệu thống kê này giúp đảm bảo rằng các cơ quan của Mỹ nắm được tất cả các dự án nghiên cứu được tài trợ về lĩnh vực này, và có khả năng phân tích khoảng cách thông tin và các lĩnh vực vẫn cần phải có “nghiên cứu hành động” (tức là nghiên cứu về những vấn đề cụ thể và các lĩnh vực thực hiện).
  • Cục Hải quan và Nhập cư Mỹ hoạt động với tư cách thành viên ban điều hành và là cơ quan đại diện thực thi luật pháp Mỹ chủ yếu trong Nhóm Đặc trách Toàn cầu - mạng lưới các cơ quan thực thi luật pháp của nhiều quốc gia được lập ra để chống tình trạng lạm dụng trẻ em trên mạng. Các cơ quan thực thi luật pháp này, các tổ chức phi chính phủ và đại diện khu vực tư nhân chia sẻ thông tin và chiến lược, tiến tới giảm mạnh tình trạng lạm dụng trẻ em trên mạng.
  • Để thực hiện nhiệm vụ pháp định theo Khoản 201 trong Đạo luật TVPRA 2005, Viện Tư pháp Quốc gia sẽ cấp ba khoản hỗ trợ mới để nghiên cứu các vụ buôn người và hoạt động tình dục vì mục đích thương mại ở Mỹ.

Kiến nghị số 4: Chính phủ Mỹ cần tăng cường nỗ lực xác định nạn nhân, cụ thể qua việc mở rộng cách tiếp cận tập trung vào lĩnh vực công việc sang lĩnh vực y tế công cộng, cộng đồng giáo dục, các chức sắc tôn giáo, các lĩnh vực công việc khác hoặc những tổ chức ứng phó đầu tiên.

Các thành tựu trong năm tài chính 2006:

  • Số lượng các nhóm đặc trách về buôn người của Bộ Tư pháp tăng lên từ 32 nhóm vào cuối năm tài chính 2005 lên 42 nhóm vào cuối năm tài chính 2006. Các nhóm đặc trách hoạt động với sự hợp tác mở rộng giữa Văn phòng Luật sư trưởng Mỹ, một cơ quan thực thi pháp luật địa phương hoặc của bang do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ, một nhà cung cấp dịch vụ cho nạn nhân buôn người được Văn phòng phụ trách Nạn nhân tài trợ toàn diện và các cơ quan điều tra Liên bang khác, nhằm xác định và giải cứu nạn nhân buôn người và truy tố những kẻ buôn người. Phòng các quyền Dân sự tổ chức huấn luyện cách xác định nạn nhân cho hàng trăm công tố viên, điều tra viên, và đại diện các tổ chức phi chính phủ, kể cả thành viên các nhóm đặc trách có nhiệm vụ chính là đưa ra các sáng kiến xác định nạn nhân. Những sáng kiến này bao gồm công tác tuyên truyền cơ sở tại các cộng đồng dễ bị tổn thương ở các vùng nông thôn, các chiến dịch nâng cao nhận thức của người dân và các biện pháp nhằm tăng cường công tác báo cáo cho cơ quan thực thi pháp luật về những trường hợp có khả năng là buôn người ở các khu trung tâm đô thị. Để tăng cường sự phối hợp giữa chiến dịch Giải cứu và Hồi phục của Bộ Y tế và Dịch vụ con người và các sáng kiến thực thi pháp luật, một khóa huấn luyện về công việc xác định nạn nhân của Bộ Y tế và Dịch vụ con người đã được thực hiện.
  • Trong năm tài chính 2006, Văn phòng Đào tạo, Hỗ trợ và Phát triển công tố viên nước ngoài đã thực hiện 56 chương trình chống buôn người tại 21 quốc gia. Mục tiêu của các chương trình này là đào tạo và huấn luyện cho các chuyên gia y tế công cộng, các quan chức tòa án, các nhà cung cấp dịch vụ cho nạn nhân, các tổ chức phi chính phủ, quan chức chính phủ, các nhân viên thực thi luật pháp và các thẩm phán ở khắp nơi trên thế giới.
  • Trong năm tài chính 2006, Bộ Y tế và Dịch vụ con người tập trung nỗ lực tuyên truyền đối với các tổ chức y tế công cộng qua các hoạt động như huấn luyện, tổ chức các buổi nói chuyện và hội thảo. Bộ Y tế và Dịch vụ con người đã huấn luyện các tuyên truyền viên, người quản lý vụ án, điều phối viên chương trình theo dõi sức khỏe của người tị nạn và 9 sở y tế tham gia thông qua Sở Y tế bang Illinois. Bộ Y tế và Dịch vụ con người đã tổ chức các buổi nói chuyện với Mạng lưới các phòng khám dành cho người di cư và Học viện Bác sỹ điều trị tại gia của Mỹ.
  • Sau hội nghị Nhóm đặc trách liên ngành của Tổng thống tháng 6/2006, G/TIP đã hợp tác với Bộ Giao thông khuyến khích Hiệp hội Vận tải Hàng không và Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế, cơ quan đại diện cho 265 hãng hàng không và chiếm 94% số chuyến bay quốc tế, nhằm tăng cường nhận thức về vấn đề du lịch mại dâm trẻ em.
  • G/TIP cũng đang hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, Hiệp hội Khách sạn và Nhà trọ Mỹ và Hội đồng Liên giáo về trách nhiệm tập thể để đảm bảo có được sự hỗ trợ từ các hệ thống khách sạn quốc tế chính trong việc thông qua các bộ quy tắc ứng xử đạo đức, huấn luyện chống bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại, và củng cố nhận thức của khách hàng về vấn đề này. G/TIP cũng đang phát triển quan hệ với các đối tác trong các khu vực kinh tế khác như ngành luật và lĩnh vực công nghệ cao.

II. Lợi ích và dịch vụ trong nước dành cho nạn nhân buôn người

Ở trong nước, nỗ lực chống buôn người của Chính phủ Mỹ thành công là nhờ cách tiếp cận lấy nạn nhân làm trọng tâm. Bởi vậy, tất cả các cơ quan chính phủ Mỹ cam kết cho nạn nhân được tiếp cận với các dịch vụ và lợi ích theo quy định của Đạo luật TVPA. Vì những lợi ích mà chính phủ dành cho nạn nhân không phải là công dân Mỹ gắn liền với quy chế nhập cư của họ, nên Đạo luật TVPA đã tạo ra cơ chế cho phép các nạn nhân buôn người không phải là công dân Mỹ được tiếp cận các dịch vụ và lợi ích mà lẽ ra họ không được hưởng. Nguồn quỹ nhằm cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho nạn nhân do Chính phủ Liên bang cung cấp theo Đạo luật TVPA được sử dụng để hỗ trợ nạn nhân không phải là công dân Mỹ và hiện tại có thể không được sử dụng để hỗ trợ các nạn nhân là công dân Mỹ. Tuy nhiên, nạn nhân là công dân Mỹ lại được tiếp cận với các lợi ích khác của Chính phủ Liên bang. Theo các khoản 107(b)(1) và 107(b)(2) của Đạo luật TVPA, nhiều cơ quan liên bang phải mở rộng một số lợi ích hiện có cho nạn nhân buôn người và được phép cấp các khoản hỗ trợ để sự trợ giúp đó có hiệu quả. Điều khoản này xem xét hoạt động của Bộ Y tế và Dịch vụ con người, Bộ Tư pháp, Bộ An ninh Nội địa, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Công ty Dịch vụ Pháp lý nhằm thực hiện các khoản 107(b) và 107(c) của Đạo luật TVPA.

A. Bộ Y tế và Dịch vụ con người

1. Giấy chứng nhận và xác nhận đủ điều kiện nhận hỗ trợ

Đạo luật TVPA quy định việc “chứng nhận” các nạn nhân trưởng thành để nhận những lợi ích hoặc dịch vụ do Chính phủ Liên bang tài trợ hoặc quản lý như hỗ trợ tiền mặt, chăm sóc y tế, phiếu mua lương thực và hỗ trợ nhà ở. Trong năm tài chính 2006, Văn phòng Tái định cư người Tị nạn đã cấp 214 giấy chứng nhận cho người lớn và 20 giấy xác nhận đủ điều kiện cho các đối tượng vị thành niên, tổng cộng là 234 giấy chứng nhận được cấp trong năm 2006, nâng tổng số giấy chứng nhận được cấp trong 6 năm tài khóa đầu tiên lên 1076. Trong năm tài chính 2006, 94% nạn nhân được chứng nhận là phụ nữ.

 2001

2002

2003

 2004

2005

2006

198

99

151

163

231

234

Trong năm tài chính 2006, giấy chứng nhận và xác định đủ điều kiện được cấp cho nạn nhân hoặc đại diện của họ ở 20 bang, kể cả Quận Columbia, Guam và các đảo Bắc Mariana. Các nạn nhân được chứng nhận đến từ hơn 40 nước, bao gồm các nước ở châu Mỹ, châu Phi, châu Á, châu Âu và các đảo Thái Bình Dương. Đa số nạn nân có nguồn gốc Mỹ Latinh (62%), trong đó đông nhất là từ El Salvador (28%) và Mê-hi-cô (20%). Có những vụ chỉ có một nạn nhân, nhưng cũng có những vụ lớn với hơn 100 nạn nhân.

2. Trợ cấp dịch vụ

Văn phòng Tái định cư Người tị nạn tận dụng cả các hợp đồng và các khoản trợ cấp linh hoạt để xây dựng mạng lưới các tổ chức dịch vụ sẵn sàng hỗ trợ nạn nhân của các hình thức buôn người nghiêm trọng. Tháng 4/2006, Văn phòng đã ký một hợp đồng với Hội đồng Giám mục Thiên chúa giáo Mỹ cung cấp các dịch vụ tính theo đầu người cho các nạn nhân. Thông qua hợp đồng này, Văn phòng đã cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, giúp các nạn nhân có chỗ ở, đào tạo việc làm và chăm sóc sức khoẻ, đồng thời tạo ra cơ chế để nạn nhân tiếp nhận các dịch vụ cấp cứu khẩn cấp trước khi có giấy chứng nhận. Hợp đồng này cung cấp dịch vụ tính theo đầu người cho những nạn nhân đã được chứng nhận và trước khi được chứng nhận. Trong năm đầu tiên của hợp đồng, 361 nạn nhân buôn người đã được chứng nhận và những người có thị thực T và 117 nạn nhân buôn người chưa được chứng nhận, đã được nhận các dịch vụ này.[1]

Bộ Y tế và Dịch vụ con người tiếp tục cung cấp nguồn lực và lựa chọn thực thi luật pháp cho các nạn nhân vị thành niên. Nạn nhân buôn người là trẻ em không có người lớn đi kèm đủ điều kiện được chăm sóc nuôi dưỡng do chương trình Người tị nạn vị thành niên thực hiện. Chương trình này có các mức độ chăm sóc khác nhau phù hợp với nhu cầu của nạn nhân và tiếp nhận nạn nhân buôn người là trẻ vị thành niên một cách nhanh nhất có thể. Văn phòng Tái định cư Người tị nạn cũng sắp xếp để Bộ phận phụ trách các Dịch vụ dành cho trẻ em không ai đi kèm (DUCS) được tiếp nhận trẻ em vị thành niên bị buôn bán và cung cấp các dịch vụ phù hợp thông qua hệ thống nhà ở và nơi tạm trú. Một bản phụ lục dài hai trang sàng lọc các dấu hiệu dùng vũ lực, lừa đảo, hoặc cưỡng ép đã được đính kèm với các mẫu tiếp nhận ở các cơ sở tạm trú của DUCS. Công cụ sàng lọc dẫn tới các đề nghị thực thi pháp luật và các vụ điều tra mới. Cục Trẻ em và Gia đình của Bộ Y tế và Dịch vụ con người cũng cung cấp những nơi tạm trú khẩn cấp cho trẻ vị thành niên, kể cả các dịch vụ Bảo vệ Trẻ em ở các bang, 345 Trung tâm Cơ sở trên cả nước và 193 Chương trình Chuyển đổi cuộc sống cho Thanh niên vô gia cư lớn tuổi hơn do Cục Dịch vụ Thanh niên và Gia đình hỗ trợ.

3. Nỗ lực cải thiện dịch vụ

Trong năm tài chính 2005, theo công cụ đánh giá và xếp hạng chương trình của Văn phòng Quản lý và Ngân sách của Nhà Trắng thì Chương trình chống buôn người của Bộ Y tế và Dịch vụ con người được đánh giá là đạt hiệu quả khá tốt. Đánh giá này cho thấy chương trình đã được quản lý tốt, tập trung vào việc đạt kết quả và thực hiện những bước đi lớn nhằm cải thiện hình thức, vấn đề quản lý và thực hiện. Chương trình có mục tiêu dài hạn là tăng số nạn nhân buôn người được chứng nhận lên 800 người mỗi năm vào năm tài chính 2011. Thêm vào đó, chương trình có 2 biện pháp hiệu quả gồm: (1) tăng số lượng nạn nhân được chứng nhận và được phục vụ bởi toàn bộ mạng lưới các nhà tài trợ với hàng triệu đô-la đã đầu tư và (2) tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông, các cuộc gọi theo đường dây nóng và số lần truy cập website tương ứng với hàng nghìn đô-la đã đầu tư.

B. Bộ Tư pháp

1. Cục Trợ giúp Pháp lý

Tháng 3/2006, Cục Trợ giúp Pháp lý và Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân đưa ra bản lấy ý kiến thứ ba về chống buôn người. Các bang, các hạt và các cơ quan thực thi pháp luật được yêu cầu đưa ra đề xuất về việc hợp tác với văn phòng chưởng lý Mỹ (USAO) tại địa phương và một cơ quan cung cấp toàn diện dịch vụ cho nạn nhân (sẽ được Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân cung cấp tài chính) nhằm lập ra một nhóm đặc trách chống buôn người đặt trọng tâm vào nạn nhân. Đã có 16 hồ sơ được gửi lên, và Văn phòng các Chương trình Tư pháp đã thông qua 10 suất tài trợ trị giá tới 450.000 đô-la cho mỗi đơn vị được nhận trong giai đoạn 3 năm cộng tác với các luật sư, các cơ quan thực thi pháp luật liên bang và các cơ sở cung cấp dịch vụ cho nạn nhân để xác định, giải cứu nạn nhân và truy tố những kẻ buôn người. Các nhóm đặc trách mới được thành lập ở Las Vegas, bang Nevada; Dallas, bang Texas; Fort Worth, bang Texas; bang Louisiana; thành phố Salt Lake,bang Utah; hạt Bexar, bang Texas; Clearwater, bang Florida; các đảo Bắc Mariana; Independence, bang Missouri; và hạt Erie, bang New York, đưa tổng số các nhóm đặc trách chống tội phạm buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ lên 42 nhóm.

Trong năm 2006, Cục Trợ giúp Pháp lý cũng quản lý hai khoản hỗ trợ do Quốc hội ủy nhiệm. Khoản thứ nhất cho Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Phụ nữ. Đây là lần bổ sung thứ hai trong tổng số 493.614 đô-la hỗ trợ. Thông qua khoản hỗ trợ này, Trung tâm sẽ hỗ trợ cơ quan lập pháp các bang xây dựng luật chống buôn người. Khoản hỗ trợ thứ hai trị giá 987.228 đô-la đã được Cục Trợ giúp Pháp lý trao cho Tổ chức Quốc tế Shared Hope (Chia sẻ Hi vọng). Với khoản hỗ trợ này, Tổ chức Quốc tế Shared Hope sẽ hỗ trợ hai nhóm đặc trách về buôn người hiện có[2] và 10 cơ quan thực thi pháp luật nhận phần thưởng năm 2006 của Cục Trợ giúp Pháp lý dành cho những nhóm đặc trách chống buôn người nào đã xây dựng được các quy định tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các nạn nhân buôn người là công dân Mỹ, mà chủ yếu là trẻ vị thành niên bị bóc lột tình dục vì mục đích thương mại, được tiếp nhận các dịch vụ y tế, tâm lý, pháp luật và các dịch vụ khác phù hợp với họ. Trong năm 2006, Cục Trợ giúp Pháp lý cũng trao một khoản hỗ trợ do Quốc hội ủy nhiệm cho thành phố Westminter, bang California với số tiền là 197.439 đô-la để thành lập Nhóm đặc trách chống buôn người ở quận Cam. Thêm vào đó, để thực hiện trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật tại khoản 201 của Đạo luật TVPRA 2005, Cục Trợ giúp Pháp lý sẽ còn trao ba khoản hỗ trợ nghiên cứu mới để phục vụ công tác nghiên cứu liên quan đến các vụ buôn người và các hoạt động tình dục vì mục đích thương mại.

2. Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân

Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân hiện đang tài trợ 32 chương trình cung cấp dịch vụ trực tiếp cho các nạn nhân buôn người. Trong năm 2006 (gian đoạn thực hiện báo cáo của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân), gần 500 nạn nhân đã được phục vụ và trên 1.600 nạn nhân đã được phục vụ kể từ khi chương trình bắt đầu.[3]

Các khoản hỗ trợ toàn diện cho phép các tổ chức nhận tài trợ có thể cung cấp các dịch vụ trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu rộng lớn của các nạn nhân, từ quản lý vụ việc, luật sư bào chữa, các dịch vụ y tế, nha khoa và tinh thần; nhà ở; quần áo và ăn uống hàng ngày; phiên dịch, đi lại; và tiếp cận với đào tạo tay nghề, việc làm, giáo dục và các dịch vụ xã hội khác. Quỹ hỗ trợ chủ yếu được sử dụng để trợ giúp các nạn nhân trong giai đoạn “chưa được chứng nhận”, tức là khoảng thời gian từ khi nạn nhân được các cơ quan thực thi pháp luật giải cứu cho đến khi được chứng nhận để tiếp nhận các quyền lợi theo quy định của Bộ Y tế và Dịch vụ con người.

Năm 2006, thông qua Lời kêu gọi chung về xây dựng Tài liệu Khái niệm trong năm tài chính 2005 và Bản lấy ý kiến của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân/Cục Trợ giúp Pháp lý trong năm tài chính 2006, Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân đã tài trợ với tổng số tiền là 12.259.676 đô-la cho 30 dự án, cả các dự án mới và các dự án đang được thực hiện để hợp tác với các Nhóm đặc trách chống buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ. Các mục tiêu tổng thể của bản lấy ý kiến chung và chương trình hợp tác với Cục Trợ giúp Pháp lý bao gồm: (1) tiếp tục tăng cường năng lực thực thi luật pháp để xác định và giải cứu các nạn nhân buôn người; (2) cung cấp nguồn lực và huấn luyện cho các cơ quan thực thi pháp luật để xác định và giải cứu nạn nhân và (3) đảm bảo rằng các dịch vụ toàn diện luôn sẵn sàng bất cứ khi nào nạn nhân buôn người được tìm thấy.

Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân hợp tác với Văn phòng Tái định cư Người tị nạn và các tổ chức nhận tài trợ để đảm bảo rằng các khoản tài trợ của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân được sử dụng để cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân buôn người chưa được chứng nhận. Sự hợp tác này cũng là để đảm bảo rằng các tổ chức nhận tài trợ không tiếp nhận tài trợ của cả hai văn phòng để cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân chưa được chứng nhận. Để cung cấp dịch vụ một cách liền mạch trong giai đoạn chuyển tiếp từ “chưa được chứng nhận” sang “được chứng nhận”, nhiều tổ chức nhận tài trợ từ Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân đã xin thêm tài trợ của Văn phòng Tái định cư Người tị nạn để cung cấp dịch vụ hỗ trợ liên tục cho nạn nhân sau khi họ có giấy chứng nhận. Với đối tượng là người nhập cư và người tị nạn thì các tổ chức nhận tài trợ khác cũng đã lên các chương trình dành cho các nạn nhân đang trong thời kỳ chuyển tiếp. Trong từng trường hợp cụ thể, Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân có thể chấp thuận sử dụng các khoản hỗ trợ dành cho các nạn nhân buôn người đã được chứng nhận khi không còn nguồn nào khác.

Các tổ chức nhận tài trợ của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân được yêu cầu phải dành riêng 5% tổng ngân sách dự án của họ cho các hoạt động huấn luyện nhân viên chuyên nghiệp địa phương xác định những người có thể là nạn nhân buôn người và cung cấp dịch vụ đặt trọng tâm vào nạn nhân. Trong năm 2006, các tổ chức nhận tài trợ của Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân để cung cấp dịch vụ trực tiếp đã tiến hành đào tạo cơ bản về chống buôn người cho hơn 78.000 nhân viên thực thi pháp luật, các luật sư, chuyên gia y tế và tâm lý và các thành viên cộng đồng.

Danh sách các dự án do Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân tài trợ có thể tìm ở địa chỉ http://www.ojp.usdoj/gov/ovc/help/traffickingmatrix.htm.

C. Bộ An ninh Nội địa

Cục Hải quan và Nhập cư hiện có khoảng 300 đơn vị và nhân viên phụ giúp (nhiệm vụ ngoài giờ giao cho đơn vị hoặc nhân viên và được coi là công việc phát sinh khi cần thiết) có trách nhiệm hỗ trợ nạn nhân. Sau khi giải cứu nạn nhân buôn người, các đơn vị thuộc Cục Hải quan và Nhập cư sẽ cố gắng đối xử với nạn nhân một cách tôn trọng và thông cảm. Khi một số lượng lớn những người có thể là nạn nhân buôn người được giải cứu, ví dụ từ một nhà thổ, thì việc phân biệt giữa nạn nhân và kẻ buôn người sẽ gặp khó khăn. Trước khi xác định được ai là nạn nhân, Cục Hải quan và Nhập cư sử dụng các khách sạn, các trại tạm giam của Cục và các cơ sở khác phù hợp để những người có thể là nạn nhân tạm trú và tiến hành thẩm vấn. Nếu ở các trung tâm tạm giam của Cục, những người có thể là nạn nhân sẽ được tách biệt với những người bị tạm giam khác. Các nhóm điều tra viên, các nhân viên hỗ trợ nạn nhân liên bang và các tổ chức phi chính phủ làm việc ngay trong trung tâm tạm giữ để thẩm vấn bất kỳ người nào. Ngay khi được xác định là nạn nhân, những người này sẽ được một tổ chức phi chính phủ chăm sóc. Đồng thời, các cơ quan liên bang còn có tài liệu được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau giải thích các quyền của nạn nhân buôn người và những dịch vụ dành cho họ. Nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Cục Hải quan và Nhập cư và của nhân viên hỗ trợ nạn nhân là đảm bảo rằng nạn nhân được đọc tài liệu đó bằng tiếng mẹ đẻ hoặc được phiên dịch nếu họ không biết chữ.

Về việc hỗ trợ tài chính khẩn cấp cho nạn nhân sau khi được giải cứu, Chương trình Hỗ trợ nạn nhân/Nhân chứng của Cục Hải quan và Nhập cư sẽ dùng nguồn quỹ Liên bang Hỗ trợ nạn nhân do Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân cấp cho các đơn vị có trọng trách đặc biệt của Cục để giúp đỡ nạn nhân trong trường hợp địa phương không có quỹ hỗ trợ. Trong năm tài chính 2006, Cục Hải quan và Nhập cư đã sử dụng quỹ này để cung cấp chỗ ở và lương thực cho ba nạn nhân người U-crai-na ở New York; cung cấp các dịch vụ khẩn cấp trực tiếp cho 100 phụ nữ Triều Tiên trong các vụ việc xảy ra đồng thời ở New York, New Jersey và Washington; và cung cấp chỗ ở, lương thực và các khoản hỗ trợ khẩn cấp khác cho bốn nạn nhân người Mê-hi-cô ở New York; cung cấp nhà ở, quần áo và lương thực khẩn cấp cho một nạn nhân buôn người vị thành niên đến từ Goa-tê-ma-la. Trong nhiều trường hợp, những quỹ này là rất cần thiết để thu hẹp khoảng cách về dịch vụ dành cho nạn nhân cho đến khi họ được chuyển sang một tổ chức phi chính phủ để được chăm sóc.

D. Bộ Ngoại giao

Trong năm 2006, Cục Dân số, Người tị nạn và Di cư thuộc Bộ Ngoại giao đã hỗ trợ Chương trình Hồi hương, Tái hòa nhập và Đoàn tụ gia đình đối với nạn nhân buôn người. Chương trình này giúp những thành viên gia đình đủ điều kiện được đoàn tụ tại Mỹ với người thân đã bị buôn bán và hỗ trợ nạn nhân nào muốn tự hồi hương. Đối tác triển khai hoạt động của Cục là Tổ chức Di cư Quốc tế phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan thực thi pháp luật, các cộng đồng tôn giáo, tín ngưỡng và các cơ quan Chính phủ Mỹ để hỗ trợ gia đình có người thân là nạn nhân buôn người đã được xác nhận. Sau khi nhận được thị thực T (được đề cập trong phần III dưới đây), nạn nhân buôn người có thể đưa thành viên gia đình đủ điều kiện đến Mỹ như quy định trong Đạo luật TVPA. Tổ chức Di cư Quốc tế có thể hỗ trợ tài chính và hậu cần để các thành viên gia đình tới Mỹ ngay thông qua hỗ trợ trước khi đi như lo giấy tờ đi lại, phương tiện đi lại, hỗ trợ tại sân bay và đưa trẻ em đi cùng. Còn với những ai không muốn nhận thị thực T ở Mỹ, chương trình sẽ đảm bảo hỗ trợ họ trở về an toàn và tái hòa nhập với cộng đồng. Sự trợ giúp này bao gồm hỗ trợ trước khi đi, giấy tờ đi lại, phương tiện đi lại và khi có thể, các đối tác của Tổ chức Di cư Quốc tế sẽ đón họ sau khi về tới nơi. Đối tác của các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ tái hòa nhập nhằm giảm nguy cơ nạn nhân bị buôn bán trở lại, như hỗ trợ chỗ ở tạm thời, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo và cấp những khoản trợ cấp nhỏ dành cho các hoạt động tạo thu nhập. Cho đến nay, chương trình này đã giúp 96 thành viên gia đình đoàn tụ với các nạn nhân buôn người ở Mỹ và 6 nạn nhân khác được hồi hương. Ngoài ra, hiện còn có 140 trường hợp đang được xử lý, chủ yếu là đoàn tụ gia đình tại Mỹ với người thân là nạn nhân buôn người.

E. Bộ Quốc phòng

Chương trình Đấu tranh chống Buôn người do Bộ Quốc phòng thực hiện chủ yếu là thực hiện trách nhiệm của các công chức trong Bộ chứ không cung cấp dịch vụ cho nạn nhân. Tuy nhiên, Tổng thanh tra của Bộ có một đường dây nóng (1-800-424-9098) để nạn nhân gọi điện cho các cơ quan có thể trợ giúp theo yêu cầu. Bên cạnh đó, Bộ Quốc phòng cũng đang lên danh sách các tổ chức phi chính phủ cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân buôn người ở những nước mà Bộ có đại diện thường trú. Danh sách này cung cấp cho các chỉ huy chiến dịch chống buôn người thông tin về các tổ chức tại khu vực họ phụ trách để nạn nhân có thể tìm đến khi cần giúp đỡ.

F. Bộ Lao động

Các trung tâm đào tạo nghề Bộ Lao động cung cấp dịch vụ đào tạo và việc làm - chủ yếu là hỗ trợ tìm việc, tư vấn nghề nghiệp và đào tạo tay nghề cho các nạn nhân buôn người. Các đơn vị nhận tài trợ ở bang và địa phương trực tiếp cung cấp những dịch vụ này cho các nạn nhân. Bộ Lao động không thu thập thông tin về việc các nạn nhân sẽ được nhận các dịch vụ và tận dụng các dịch vụ đó ở mức nào.

Công cụ Điện tử Quốc gia được sử dụng tại phòng thông tin của các trung tâm đào tạo hoặc được truy cập từ xa qua Internet, giúp nạn nhân có thể tự tìm được thông tin nghề nghiệp và lao động. Các công cụ này bao gồm: America’s Career InfoNet (ACINet); America’s Service Locator (ASL); Toll-Free Help Line (TFHL) và Mạng lưới Thông tin Ngành nghề (Occupational Information Network).

Chương trình Nghề nghiệp của Bộ Lao động hỗ trợ thanh niên đủ điều kiện lấy bằng trung học hoặc chứng chỉ GED và tổ chức các chương trình đào tạo phổ thông và kỹ năng trong cuộc sống. Mục tiêu của chương trình này là giúp người tham gia tăng khả năng được tuyển dụng, tăng tính độc lập và có được công việc có ý nghĩa hoặc được học lên cao hơn. Nạn nhân buôn người sẽ đủ điều kiện nếu họ đáp ứng được các yêu cầu của chương trình như có thu nhập thấp, là công dân Mỹ hoặc thường trú tại Mỹ, độ tuổi từ 16 đến 24 và có nhu cầu tiếp tục học thêm hoặc đào tạo phổ thông.

G. Bộ Giáo dục

Tháng 5/2006, Bộ Giáo dục cùng với Bộ Tư pháp, Bộ Y tế và Dịch vụ con người và Bộ An ninh nội địa xác nhận những nạn nhân buôn người đủ điều kiện nhận hỗ trợ tài chính liên bang dành cho sinh viên. Nỗ lực chung này đã tạo ra một quy trình xét duyệt mới cho phép các cá nhân có đủ điều kiện nộp đơn xin hỗ trợ của liên bang dành cho sinh viên. Ở Mỹ, chỉ những nạn nhân nào sẵn sàng giúp cơ quan thực thi pháp luật truy tố những kẻ buôn người mới có thể đủ điều kiện được hưởng những lợi ích của hầu hết các chương trình hỗ trợ liên bang và bang. Tại thời điểm công bố, có trên 900 cá nhân đăng ký xác nhận là nạn nhân buôn người ở Mỹ được chứng nhận là đủ điều kiện nhận hỗ trợ.

H. Công ty dịch vụ pháp lý

Công ty dịch vụ pháp lý là một công ty tư nhân, phi lợi nhuận được Quốc hội thành lập để tài trợ các chương trình trợ giúp pháp lý trên toàn quốc nhằm giúp đỡ những người có thu nhập thấp tiếp cận với hệ thống tư pháp dân sự. Theo điều 107 (b) của Đạo luật TVPA, Công ty Dịch vụ Pháp lý phải trợ giúp pháp lý cho nạn nhân buôn người, những người rất cần sự hỗ trợ về vấn đề nhập cư và các vấn đề khác. Công ty Dịch vụ Pháp lý đã ra văn bản hướng dẫn gửi tất cả các giám đốc chương trình của Công ty, trong đó nêu nghĩa vụ trợ giúp pháp lý đối với nạn nhân buôn người. Văn bản hướng dẫn này có tại địa chỉ: http://www. Rin.lsc.gov/Reference%20Materials//Refrmats/Progltrs/progltrs/05-2.htm. Trong năm tài chính 2006, 13 tổ chức nhận tài trợ của Công ty Dịch vụ Pháp lý đã trợ giúp 269 nạn nhân buôn người, tăng 128 người so với năm tài chính 2005.

I. Làm thế nào để cải thiện các dịch vụ dành cho nạn nhân

1. Tiếp tục hành động theo kiến nghị trong bản đánh giá tháng 9/2006

Để nạn nhân tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ của mình, Chính phủ Mỹ phải tiếp tục nâng cao khả năng xác định nạn nhân. Thực hiện theo các kiến nghị trong Bản đánh giá tháng 9/2006, Chính phủ Mỹ đã tăng cường khả năng tìm kiếm và giải cứu nạn nhân buôn người bằng việc tập trung vào các lĩnh vực công việc cụ thể hoặc những tổ chức đầu tiên có trách nhiệm, chẳng hạn những ngành trọng điểm, cộng đồng tín ngưỡng tôn giáo, cộng đồng giáo dục, khu vực y tế công cộng và ngành du lịch. Chính phủ Mỹ cũng hợp tác với các bang và địa phương, chẳng hạn như các tổ chức phi chính phủ, nhằm cải thiện việc điều phối các dịch vụ cho nạn nhân. Hoạt động hợp tác này bao gồm gia tăng nỗ lực tìm kiếm nạn nhân, theo dõi sự hỗ trợ mà nạn nhân nhận được từ Chính phủ Mỹ và các tổ chức nhận tài trợ từ Chính phủ Mỹ và điều phối hiệu quả hơn nỗ lực cung cấp dịch vụ cho nạn nhân.

  • Bộ Tư pháp chỉ đạo việc hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nhằm tăng cường năng lực của các nhà cung cấp dịch vụ “truyền thống” cho nạn nhân - chẳng hạn như các nhà cung cấp dịch vụ cho nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình hoặc bị cưỡng dâm - trong việc xác định và giải cứu các nạn nhân buôn người. Ví dụ, Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân lưu trữ thông tin buôn người dưới dạng băng video hoặc các ấn phẩm khác có thể phổ biến cho khu vực hỗ trợ nạn nhân rộng hơn. Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân đã phát hành một cuốn băng video đề cập sự cần thiết phải phối hợp giữa các nhà cung cấp dịch vụ cho các nạn nhân buôn người với các nhà cung cấp dịch vụ nhập cư và các nhà chuyên môn khác để phục vụ nạn nhân buôn người tốt hơn. Đối tượng chủ yếu của cuốn phim là các nhà cung cấp dịch vụ truyền thống và mục đích của nó là giúp họ tăng cường kỹ năng và nguồn lực phục vụ các cá nhân từng bị buôn bán. Dự kiến cuốn băng sẽ được phát hành vào mùa thu 2007.
  • Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân cũng hợp tác với cộng đồng tín ngưỡng, tôn giáo. Năm 2006, Văn phòng đã thực hiện cuốn băng với tựa đề “Phản ứng của các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng đối với nạn nhân buôn người”, trong đó có một phần cụ thể về buôn người. Cuốn băng này có thể được dùng làm công cụ tuyên truyền và giáo dục khuyến khích tăng cường hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ truyền thống và các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng. Dự kiến cuốn bằng này sẽ được phát hành vào tháng 9/2007.
  • Phòng lương và giờ làm thuộc Bộ Lao động tiếp tục nhấn mạnh sự tuân thủ các bộ luật về tiêu chuẩn lao động như Đạo luật Tiêu chuẩn lao động công bằng và Đạo luật Bảo vệ Người lao động là dân nông nghiệp, làm theo thời vụ và dân Nhập cư trong các ngành trả lương thấp, sử dụng lao động là những người dễ bị tổn thương và có thể là nạn nhân buôn người. Nhân viên Phòng lương và giờ làm còn hướng dẫn cho nhiều đối tác và công chúng về nhiều khía cạnh của luật liên bang do Bộ Lao động thực hiện và về phạm vi thẩm quyền điều tra cho phép Phòng lương và giờ làm đóng góp tích cực vào các nỗ lực chống buôn người.

2. Kiến nghị cho năm tài chính 2007

Là một phần trong cách tiếp cận lấy nạn nhân làm trọng tâm trong cuộc chiến chống buôn người, Chính phủ Mỹ đã có những cải thiện đáng kể nỗ lực cung cấp dịch vụ cho nạn nhân. Điều quan trọng là những bước tiến này tiếp tục được thực hiện trong năm tài chính 2007. Dưới đây là một số lĩnh vực mà Chính phủ Mỹ có thể tập trung cải thiện:

  • Với sự gia tăng mạnh mẽ nỗ lực của Văn phòng các Chương trình hỗ trợ Tư pháp thông qua Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân và Cục Trợ giúp Pháp lý, điều quan trọng là phải có một chương trình hợp tác hỗ trợ kỹ thuật cho các nhóm đặc trách và các nhà cung cấp dịch vụ. Văn phòng Hỗ trợ Nạn nhân và Cục Trợ giúp Pháp lý đang xây dựng một chiến lược chung nhằm hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho các tổ chức nhận tài trợ xây dựng và thực hiện các quy định; xây dựng và duy trì hợp tác giữa các đối tác cộng đồng; thu thập số liệu đã được chuẩn hóa, chính xác và hữu ích. Một vài tổ chức nhận tài trợ còn yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật để hiểu được tính chất phức tạp của hoạt động buôn người; hỗ trợ điều tra và truy tố các vụ buôn người một cách hiệu quả nhất và cung cấp cho nạn nhân các dịch vụ toàn diện và lành mạnh về văn hóa. Vì các vụ buôn người hiếm khi xảy ra “thường xuyên” nên các tổ chức nhận tài trợ cũng cần tiếp cận với các chuyên gia cũng như có cơ hội để chia sẻ “bài học” và những biện pháp có thể áp dụng.
  • Bên cạnh đó, Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ đang nỗ lực chuyển thông tin về thị thực T từ cơ sở dữ liệu của nó sang hệ thống chính. Phương pháp tìm kiếm đặc điểm nạn nhân và vụ việc dễ dàng và đơn giản hơn sẽ rất có ích cho người làm nghiên cứu.

III. Những lợi ích nhập cư dành cho nạn nhân buôn người

A. Tiếp tục cư trú và hưởng quy chế không nhập cư T

Bộ An ninh Nội địa tham gia tích cực vào nỗ lực chống buôn người của chính phủ Mỹ. Bộ An ninh Nội địa điều tra các tội buôn người, hợp tác với các Văn phòng luật sư Mỹ và Bộ Tư pháp để truy tố những kẻ buôn người, bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân, và cho những người đủ điều kiện được hưởng những lợi ích nhập cư (như tiếp tục cư trú và hưởng quy chế không nhập cư). Sự kết hợp mối quan tâm bảo vệ nạn nhân với hoạt động thi hành luật xuất phát từ nhận thức rằng: để điều tra và truy tố có hiệu quả các tội buôn người, trước hết phải bảo vệ nạn nhân. Bảo vệ không chỉ có nghĩa là đảm bảo an toàn thể chất của nạn nhân, mà còn phải nhận thức được là những kẻ buôn người thường dùng luật nhập cư của Mỹ làm phương tiện đe dọa hoặc trả thù nạn nhân. Cục Hải quan và Nhập cư Mỹ và Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống buôn người bằng cách bảo vệ nạn nhân dưới hình thức cho tiếp tục cư trú và hưởng quy chế không nhập cư T.

Nạn nhân bị buôn bán ở Mỹ có đủ điều kiện nhận hai loại hỗ trợ nhập cư - Tiếp tục Cư trú và hưởng quy chế không nhập cư T, còn được gọi là thị thực T. Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế, Bộ An ninh Nội địa, trước đây gọi là Phòng Hỗ trợ Nhân đạo và người Tạm tha, là cơ quan có quyền cho phép nạn nhân được tiếp tục cư trú. Trong khi đó Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ cung cấp quy chế không nhập cư T. Bộ An ninh Nội địa gửi thông báo chấp thuận cho Vụ các Dịch vụ Y tế, cơ quan cấp giấy chứng nhận theo mục 107 (b) của Đạo luật TVPA như đã trình bày ở trên.

“Tiếp tục cư trú” là một quy chế tạm thời, do nhân viên thi hành luật liên bang đề nghị, cho phép ngoại kiều được cư trú hợp pháp tại Mỹ trong thời gian chờ đợi điều tra hoặc truy tố. Quy chế “tiếp tục cư trú” được cấp cho nạn nhân buôn người theo mục 107(c)(3) Đạo luật TVPA. Theo Phần 1103 C.F.R. 28, Bộ An ninh Nội địa có quyền cấp quy chế “tiếp tục cư trú” cho nạn nhân của các hình thức buôn người nghiêm trọng, những người có thể ra làm chứng trong quá trình điều tra và truy tố. Yêu cầu xin được tiếp tục cư trú được xem xét và, khi được chứng minh là đủ điều kiện, thì Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế sẽ chấp thuận theo thẩm quyền do Bộ trưởng An ninh Nội địa quy định.

Sau khi tiếp nhận bộ hồ sơ hoàn chỉnh, Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế sẽ xem xét việc cấp quy chế “tiếp tục cư trú.” Trong vòng 24 giờ, hồ sơ phê chuẩn sẽ được chuyển sang Trung tâm dịch vụ Vermount thuộc Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ để cơ quan này cấp giấy cho phép được làm việc và lập hồ sơ Đến/Đi I-94. Quy chế “tiếp tục cư trú” có hiệu lực trong thời hạn 1 năm, nhưng sau đó có thể gia hạn nếu việc điều tra chưa kết thúc.

Trong năm tài chính 2006, Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế đã nhận được 117 đơn xin cấp quy chế tiếp tục cư trú. Trong số này có 112 đơn được chấp thuận và 5 đơn bị các cơ quan thi hành luật liên bang rút lại do không có đủ bằng chứng cho thấy cá nhân đó là nạn nhân của hình thức buôn người nghiêm trọng như quy định của Đạo luật TVPA. Phòng Tạm tha Thi hành luật thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế cũng nhận được 80 đơn xin gia hạn quy chế tiếp tục cư trú và tất cả đều được chấp nhận. Đa số đơn xin gia hạn đều liên quan đến một cuộc điều tra của Cục Hải quan và Nhập cư Mỹ tại Long Island về các nạn nhân người Pêru bị cưỡng ép lao động.

 

Số đơn xin cấp quy chế tiếp tục cư trú trong năm tài chính 2006
Số đơn được chấp thuận
Số đơn bị rút lại
Số đơn xin gia hạn quy chế tiếp tục cư trú
Số đơn xin gia hạn được chấp thuận

117

112

5

80

80

Các nước đại diện

Những nước có đông nạn nhân nhất
Các thành phố có nhiều đơn xin quy chế tiếp tục cư trú nhất

24

Mê-hi-cô, El Sanvador, và Hàn Quốc

Houston, Newark, và New York

Thông qua các nhóm Đặc trách chống Buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ, hơn 36.000 nhân viên thi hành luật và những người chắc chắn tiếp xúc với nạn nhân buôn người đã được huấn luyện xác định nạn nhân và hoạt động buôn người. Năm 2006, các nhóm Đặc trách chống buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ đã xác định được 962 người có khả năng là nạn nhân buôn người. 81 người trong số những nạn nhân này xin được tiếp tục cư trú.[4] Tổng số người có khả năng là nạn nhân được các nhóm đặc trách do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ xác định trong hai năm hoạt động đã lên tới 1.520 người, trong đó 234 người đã nhận được quy chế tiếp tục cư trú theo đề nghị của cơ quan thi hành luật liên bang.[5]

Nạn nhân cũng có thể xin Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ cấp quy chế không nhập cư T. Quy chế này dành cho người nước ngoài với những điều kiện sau: (1) là nạn nhân của một hình thức buôn người nghiêm trọng, (2) có mặt ở hoặc tại cảng vào Mỹ (như định nghĩa trong luật nhập cư), cảng Sa-moa, hoặc Khối thịnh vượng chung các đảo Bắc Mariana vì lý do buôn người, (3) đã đáp ứng yêu cầu hỗ trợ việc điều tra và truy tố hành động buôn người, hoặc dưới 18 tuổi, và (4) sẽ phải chịu cực khổ như bị tổn hại nghiêm trọng hoặc bất thường nếu bị trục xuất. Những nạn nhân được hưởng quy chế không nhập cư T đủ điều kiện được ở lại Mỹ 4 năm, và có thể được gia hạn nếu cơ quan thi hành luật đang điều tra hoặc truy tố hoạt động liên quan đến buôn người xác nhận rằng sự hiện diện của họ ở Mỹ là cần thiết để phục vụ quá trình điều tra hoặc truy tố. Sau 3 năm, những đối tượng được hưởng quy chế thị thực T đủ điều kiện để nộp đơn xin điều chỉnh quy chế để được cư trú hợp pháp vĩnh viễn theo những quy định của pháp luật. Xem bảng dưới đây để biết số lượng nộp đơn, những người được chấp thuận và những người không được cấp thị thực T trong năm tài chính 2006.

Những quy định thực hiện việc cấp thị thực T được ban hành năm 2002. Những quy định này bao hàm những yếu tố cơ bản, theo đó người nộp đơn phải chứng minh là mình đủ điều kiện được cấp quy chế không nhập cư T. Những yếu tố này còn quyết định thủ tục nộp đơn và hướng dẫn nhằm hỗ trợ quá trình nộp đơn. Theo luật, những quy định về thị thực T cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho nạn nhân của hình thức buôn người nghiêm trọng hiện đang có mặt ở Mỹ. Đơn xin thị thực T có vai trò như đơn tự kiến nghị (ví dụ, nạn nhân có thể nộp đơn trực tiếp lên Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ ). Tại Trung tâm Dịch vụ Vermont thuộc Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ, một đội ngũ thẩm phán tận tụy chuyên về vấn đề nạn nhân và hoạt động buôn người sẽ xét tất cả những đơn này.

Trong suốt 5 năm đầu tiên thực hiện, chương trình cấp thị thực T đã đạt được những tiến bộ cả về xem xét các trường hợp nộp đơn lẫn việc chuẩn bị của các luật sư và các tổ chức phi chính phủ khác trong việc hỗ trợ người nộp đơn xin thị thực T. Ngày càng ít đơn bị trả lại, và yêu cầu người nộp đơn cung cấp thêm bằng chứng, mặc dù trong một số hoàn cảnh đây vẫn là một vấn đề khiến việc giải quyết bị trì hoãn. Các quy định điều chỉnh chương trình thị thực T không cản trở những người đủ tiêu chuẩn nộp đơn xin thị thực. Trở ngại lớn nhất chính là việc nạn nhân không biết có hình thức hỗ trợ này. Trong khi Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ chỉ có thể thông tin về chương trình thị thực T đến những người có thể nạn nhân - thực chất những người này thường bị che giấu các nguồn thông tin về chương trình - thì việc nâng cao hiệu quả phối hợp các đường dây nóng của cơ quan và tiếp tục huấn luyện nhân viên thi hành luật các cấp để tư vấn cho các nạn nhân buôn người tiềm tàng sẽ giúp họ tăng cường tham gia chương trình.

Số người nộp đơn, số người được cấp, số người không được cấp thị thực T

 

Năm tài chính 2006
Năm tài chính 2005
Số nạn nhân

 

 

Nộp đơn
345
229
Được chấp nhận*
182
112
Bị từ chối**
52
213
Gia đình các nạn nhân

 

 

Nộp đơn
324
124
Được chấp nhận*
99
114
Bị từ chối**
43
18

* Một số trường hợp được cấp thị thực đã nộp đơn từ (các) năm tài chính trước
** Một số người nộp đơn bị từ chối hai lần (tức là nộp đơn lần thứ nhất bị từ chối, sau đó tiếp tục nộp đơn).

B. Cải thiện cung cấp hỗ trợ nhập cư

Chính phủ có thể áp dụng một số biện pháp để cải thiện việc cung cấp hỗ trợ nhập cư cho nạn nhân buôn người:

  • Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ liên tục cố gắng phát hiện tình trạng lạm dụng thủ tục cấp thị thực, đặc biệt là làm thị thực giả để buôn bán lao động, và báo cáo các vụ vi phạm lên Cục Hải quan và Nhập cư Mỹ và Bộ Lao động. Năng lực của Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ có thể nâng cao bằng cách tăng cường các hệ thống công nghệ thông tin giải quyết những vụ việc này, thêm vào hệ thống này dữ liệu về các hình thức buôn người.
  • Thông tin từ hồ sơ xin cấp thị thực T là dữ liệu được đưa vào cơ sở dữ liệu độc lập dùng riêng cho các trường hợp xin thị thực T. Cơ sở dữ liệu này có nhiều hạn chế, chẳng hạn như không có khả năng xác định số người được cấp thị thực có liên quan đến buôn bán lao động. Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ và chương trình thị thực T sẽ rất có lợi nếu thông tin xin cấp thị thực T được đưa vào hệ thống thông tin chính của Cục, vì như vậy thông tin sẽ đầy đủ hơn. Thông tin đầy đủ hơn sẽ giúp phát hiện những xu hướng hoặc những điểm giống nhau để phục vụ các cuộc điều tra khác hoặc sau này. Cục Dịch vụ Công dân và Nhập cư Mỹ đang cố gắng chuyển thông tin xin cấp thị thực T từ cơ sở dữ liệu độc lập sang hệ thống thông tin chính của mình.

IV. Điều tra và truy tố hoạt động buôn người

A. Điều tra

Một số cơ quan liên bang tiến hành điều tra hoạt động buôn người, và đa số các vụ đều do nhân viên Cục Điều tra Liên bang và Cục Hải quan và Nhập cư giải quyết.

1. Cục Điều tra Liên bang

Các đặc vụ thuộc Phòng các quyền Dân sự tại trụ sở Cục Điều tra Liên bang và tại các văn phòng trên cả nước điều tra hoạt động buôn người ở Mỹ. Bên cạnh đó, nhân viên Cục Điều tra liên bang tại Bộ phận các quyền Dân sự còn phối hợp với nhân viên của Đơn vị chống tội phạm có tổ chức và tội ác chống lại trẻ em nhằm đảm bảo rằng các trường hợp ban đầu được xác định là buôn lậu, xâm hại trẻ em trên Internet, và du lịch mại dâm cũng được xác định là những yếu tố tiềm ẩn của hoạt động buôn người. Trong năm tài chính 2006, thông qua Sáng kiến chống buôn người và Sáng kiến Quốc gia về Bảo vệ trẻ em, Cục Điều tra Liên bang đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong điều tra hoạt động buôn người.

Theo Sáng kiến chống buôn người, bắt đầu từ năm tài chính 2005, văn phòng của Cục Điều tra Liên bang tại các địa phương -dựa trên đánh giá về mối đe dọa - xác định sự tồn tại và mức độ hoạt động buôn người tại khu vực họ quản lý, tham gia lực lượng đặc trách chống buôn người, thiết lập và duy trì quan hệ với các tổ chức phi chính phủ địa phương và các tổ chức cộng đồng, thực hiện điều tra hướng vào nạn nhân, và báo cáo những diễn biến vụ việc quan trọng lên Phòng các quyền Dân sự. Cho đến nay, Cục Điều tra Liên bang đã tham gia Lực lượng đặc trách chống buôn người do Cục Trợ giúp Pháp lý tài trợ, và xây dựng 56 bản đánh giá về mối đe dọa trong Chương trình Quyền dân sự.

Điều tra hoạt động buôn người của Phòng các quyền Dân sự, Cục Điều tra Liên bang

Năm tài chính
Số vụ được làm sáng tỏ
Số cáo trạng/ Thông tin
Số người bị bắt
Số người bị kết án
2001
54
29
67
15
2002
58
26
65
15
2003
65
40
32
18
2004
86
32
16
22
2005
146
45
51
14
2006
126
97
142
70
Tổng số
535
269
373
154

* Những số liệu này khác với số liệu các vụ truy tố được liệt kê ở những phần khác trong báo cáo này, vì Cục Điều tra Liên bang không tham gia tất cả các cuộc điều tra buôn người.

Bên cạnh đó, Đơn vị chống tội xâm hại trẻ em của Cục Điều tra Liên bang tiếp tục đấu tranh chống các hoạt động mại dâm trẻ em tại Mỹ thông qua Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ trẻ em. Tháng 6/2003, Cục Điều tra Liên bang phối hợp với Phòng chống khiêu dâm và bóc lột trẻ em thuộc Cục Hình sự, Bộ tư pháp và Trung tâm Quốc gia về trẻ em mất tích và bị bóc lột thực hiện Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ Trẻ em nhằm giải quyết tình trạng gia tăng trẻ em bị bóc lột tình dục. Các cơ quan thi hành luật của bang và địa phương và các tổ chức phi chính phủ địa phương là những đối tác chủ yếu của các lực lượng đặc trách thực hiện Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ trẻ em ở những khu trung tâm đô thị. Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ trẻ em điều lực lượng đặc trách hoạt động tại các thành phố điểm trên toàn nước Mỹ để xác định nạn nhân, cung cấp những dịch vụ cần thiết và truy tố kẻ phạm tội. Tính đến tháng 9/2006, Sáng kiến này đã được triển khai tại 26 thành phố, với trọng tâm là vấn đề trẻ em bị bóc lột tình dục, và đã thành lập được 23 lực lượng đặc trách và nhóm công tác.

Sáng kiến Quốc gia Bảo vệ trẻ em

Năm tài chính
Các cuộc điều tra
Số người bị bắt giữ
Số lượng cáo trạng
Số người bị kết án
2006
103
157
76
43
2005
72
387
44
45
2004
67
118
26
22
Tổng
242
662
146
110

Lực lượng đặc nhiệm Bảo vệ trẻ em và các nhóm làm việc hiện đang hoạt động ở những thành phố sau: Miami và Jacksonville, Florida; Toledo, Ohio; Las Vegas và Reno, Nevada; Dallas và Houston, Texas; Boston, Massachusetts; Atlantic City, New Jersey; San Juan, Puerto Rico; Phoenix, Arizona; Detroit, Michigan; San Francisco, Sacramento, và Los Angeles, California; Harrisburg, Pennsylvania; Honolulu, Hawaii; Denver, Colorado; Oklahoma City, Oklahoma; Chicago, Illinois; New York City, New York; Washington D.C; và Indianapolis, Indiana.

2. Cục Hải quan và Nhập cư

Cục Hải quan và Nhập cư cố gắng triệt phá các tổ chức tội phạm trong nước và quốc tế tham gia hoạt động buôn người bằng cách huy động tất cả đơn vị và các nguồn lực của Cục để thực thi luật pháp trên phạm vi toàn cầu. Trong Cục Hải quan và Nhập cư, việc giám sát thực hiện Đạo luật TVPA là trách nhiệm của Bộ phận chống buôn người, thuộc Văn phòng Điều tra. Trách nhiệm điều tra hoạt động buôn người thuộc về các văn phòng khu vực trong nước, Cục Hải quan và Nhập cư và các phòng tuỳ viên thuộc Văn phòng các Vấn đề Quốc tế ở nước ngoài. Văn phòng các Vấn đề Quốc tế và các văn phòng tuỳ viên còn đào tạo các nhân viên thi hành luật và quan chức chính phủ nước ngoài, và đào tạo từ xa cho các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế về hoạt động buôn người. Trách nhiệm đảm bảo hỗ trợ nạn nhân thuộc về gần 300 điều phối viên của Cục Hải quan và Nhập cư phụ trách vấn đề nạn nhân và nhân chứng làm việc tại Văn phòng Điều tra, Văn phòng Tạm giam và Di chuyển, và Cục Bảo vệ Liên bang. Đơn vị xác minh tài sản của Cục Hải quan và Nhập cư điều tra tài chính và tài sản của các tổ chức buôn người và tập trung điều tra những vụ cướp đoạt tài sản dân sự. Trung tâm Hỗ trợ Thi hành Luật thuộc Cục Hải quan và Nhập cư là trung tâm phụ trách thi hành luật trên toàn quốc và cung cấp thông tin kịp thời về quy chế và xác định ngoại kiều. Trung tâm Hỗ trợ Thi hành Luật tăng cường khả năng của Cục Hải quan và Nhập cư trong việc nhanh chóng bắt và giam giữ những kẻ có thể là tội phạm buôn người hoặc bị cáo buộc có vấn đề về nhập cư trong khi các cuộc điều tra đang được hoàn tất. Nếu phù hợp, nhân viên của Cục Hải quan và Nhập cư còn phối hợp điều tra với Phòng các quyền Dân sự của Bộ Tư pháp và Phòng chống khiêu dâm và bóc lột trẻ em.

Các vụ điều tra và bắt giữ của Cục Hải quan và Nhập cư

Năm tài chính
Các vụ bị phanh phui
Cáo trạng/
Thông tin
Số người bị bắt
Số người bị kết án
2004
216
118
251
74
2005
322
111
186
91
2006
299
130
184
102
Tổng số
837
359
621
267

Cục Hải quan và Nhập cư cũng tích cực tham gia điều tra hoạt động bóc lột tình dục trẻ em của các công dân Mỹ ở nước ngoài. Kể từ khi Đạo luật Bảo vệ được ban hành năm 2003, Cục Hải quan và Nhập cư đã tiến hành hơn 299 cuộc điều tra hoạt động du lịch mại dâm trẻ em. Trung tâm Tội phạm trên mạng của Cục chịu trách nhiệm giám sát và quản lý các cuộc điều tra về du lịch mại dâm trẻ em trên phạm vi toàn cầu. Trong năm tài chính 2006, 65 cuộc điều tra đã được tiến hành dẫn đến việc bắt giữ 19 cá nhân phạm tội tổ chức du lịch mại dâm trẻ em. Du lịch mại dâm trẻ em là một trong những vấn đề khó điều tra nhất. Nạn nhân là trẻ em thường đến từ những gia đình rất nghèo ở vùng nông thôn của những nước kém phát triển. Thường thì nhân viên của Cục Hải quan và Nhập cư phải mất nhiều ngày đường mới đến được nơi xảy ra vụ việc. Sau đó các nhà điều tra còn gặp phải khó khăn trong việc xác định nạn nhân và đưa các trẻ em trở lại Mỹ để đối chất với thủ phạm. Trước khi xét xử, nhiều trẻ em và gia đình lén quay trở lại quê hương, một số khác thì được các bị cáo giàu có “hối lộ.”

Ngoài những nỗ lực này, Cục Hải quan và Nhập cư còn thực hiện một sáng kiến toàn diện mang tên “Chiến dịch Bảo vệ Trẻ em khỏi bị lạm dụng tình dục” nhằm bảo vệ trẻ em trước những kẻ lạm dụng tình dục nước ngoài, khách du lịch mại dâm quốc tế, những kẻ viết sách khiêu dâm trẻ em trên mạng, và bọn buôn người. Từ năm 2003, kết quả của sáng kiến này là 10.000 người đã bị bắt, trung bình hơn 8 người bị bắt mỗi ngày. Năm 2006 có 2.381 người bị bắt. Chiến dịch này cũng có một phần hợp tác quốc tế quan trọng, theo đó đầu mối các vụ việc do các văn phòng của Cục ở trong nước nắm được chia sẻ với các văn phòng tuỳ viên ở nước ngoài và các cơ quan thi hành luật ở nước ngoài. Những đầu mối chia sẻ với các cơ quan nước ngoài đã đưa đến kết quả là hơn 1.000 người bị bắt giữ ở nước ngoài.

Những vụ bắt giữ bắt nguồn từ Chiến dịch Bảo vệ trẻ em trước những kẻ lạm dụng tình dục

Năm tài chính
Số vụ bắt giữ
2006
2.381
2005
2.380
Tổng số từ khi thực hiện chương trình
10.000+

3. Trung tâm chống buôn người và đưa người qua biên giới

Trung tâm chống buôn người và đưa người qua biên giới chính thức được thành lập theo mục 7202 Đạo luật Cải tổ công tác Tình báo và Đạo luật Ngăn chặn Khủng bố năm 2004 nhằm đạt được sự phối hợp rộng rãi hơn và hiệu quả toàn diện trong nỗ lực của chính phủ Mỹ chống đưa người qua biên giới, buôn người, và di chuyển bí mật của những kẻ khủng bố. Trung tâm cũng phối hợp hoạt động với các chính phủ nước ngoài nhằm đảm bảo nỗ lực này được thực thi trên toàn cầu. Trung tâm này là đối tác của Bộ Ngoại giao, Bộ An ninh Nội địa, Bộ Tư pháp, và cộng đồng tình báo Mỹ.

Khả năng biến thông tin tình báo liên quan thành hành động thi hành luật và tăng cường điều tra tội phạm buôn người của Trung tâm rất có giá trị đối với nỗ lực chống buôn người của chính phủ Mỹ. Năm 2006, Trung tâm hỗ trợ nỗ lực chống buôn người bằng cách xem xét các hệ thống tin tức tình báo, các đầu mối và thông tin được phân loại và không phân loại liên quan đến các vụ buôn người, các hình thức và xu hướng buôn người; hỗ trợ trong những trường hợp cụ thể; phổ biến thông tin đầu mối và tin tức tình báo cho các bộ phận phù hợp; hỗ trợ các đơn vị tình báo thi hành luật liên bang; phân tích thông tin tình báo nước ngoài; và xác định các mạng lưới và tổ chức buôn người toàn cầu.

Trung tâm cũng giữ vai trò điều hoà quan trọng giữa các cơ quan có chung thẩm quyền điều tra hoạt động buôn người. Ví dụ, năm 2006 Trung tâm đã xác định được một tổ chức buôn người quốc tế vì mục đích mại dâm ở Bờ Biển Đông và hiện cả Cục Điều tra Liên bang lẫn Cục Hải quan và Nhập cư đang điều tra. Trung tâm đã phát hiện ra sự chồng chéo này và thông báo cho từng cơ quan và kết quả là một cuộc phối hợp điều tra đã được thực hiện.

Trong năm tài chính 2006, Trung tâm đã hoàn thành nhiệm vụ mà Quốc hội uỷ thác với tư cách là cơ quan thông tin của chính phủ Mỹ về việc đưa người qua biên giới, buôn người, và khủng bố thông qua cung cấp 1.600 nguồn tin, 800 báo cáo được phân loại, 55 báo cáo tình báo trong nước, 14 đánh giá tình báo chiến lược mới (trong đó nhiều báo cáo ảnh hưởng lớn đến hoạt động buôn người) cho các cơ quan hữu quan, và hoàn tất bản đánh giá chung hai nước Mỹ - Ca-na-đa về hoạt động buôn người. Trong số những ấn phẩm của Trung tâm có một bản đánh giá quan trọng về buôn bán lao động là người di cư ở Mỹ. 
           
4. Hải quan và Biên phòng

Năm tài chính 2006, Cục Hải quan và Biên phòng Mỹ đã lập Văn phòng Ngăn chặn việc đưa người qua biên giới, vì nhận thức được mối quan hệ giữa vấn đề đưa người qua biên giới và buôn người mang tính toàn cầu. Hai vấn đề này ngày càng quan trọng ở cả góc độ bi kịch đối với con người lẫn tác động của chúng đối với an ninh quốc gia, chủ yếu liên quan đến vấn đề tội phạm, y tế và phúc lợi, và kiểm soát biên giới. Văn phòng mới này sẽ tạo ra một cơ cấu nhằm thể chế hoá việc chia sẻ thông tin tình báo giữa các đường dây của Cục Hải quan và Biên phòng về hoạt động đưa người qua biên giới và buôn người. Văn phòng ngăn chặn đưa người qua biên giới sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của mình trong việc xác định, phân tích, đánh giá, và đối phó với các mối đe doạ từ hoạt động đưa người qua biên giới và buôn người. Văn phòng cũng sẽ duy trì hợp tác chặt chẽ với các đối tác là các cơ quan tình báo và thi hành luật và dự kiến sẽ có đ